Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng(1828-1910)

Người viết bộ Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu

Đặng Xuân Bảng (1828-1910) quê ở Xuân Trường - Nam Định, đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi. Trong thời gian làm quan, ông đã nhiều lần can gián vua, song đáng tiếc nhiều ý kiến vượt trên thời đại của ông không được chú ý. Sau khi về hưu, ông dành gần 20 năm để viết bộ Việt sử cương mục tiết yếu được đánh giá là có nhiều nét đặc sắc so với các bộ lịch sử Việt Nam trước đó.

Mùa xuân năm Mậu Tý (1828) dưới triều Nguyễn Thái Tổ niên hiệu Minh Mạng năm thứ chín ở xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Vợ ông Tú tài Đặng Viết Hòe (vì bảy lần đi thi đều chỉ đỗ tú tài nên còn gọi là Mền Hòe) sinh được người con trai rất khôi ngô, tuấn tú. Ông Mền Hòe ngắm con trai mà lòng dạt dào vui sướng, ông đặt tên con trai là Xuân Bảng, hy vọng con ông lớn lên sẽ làm rạng danh cho dòng họ Đặng bằng con đường khoa bảng. "Nhất định con ta sẽ hơn ta, muốn vậy, ta phải dạy con ta ngay từ sau khi nó tập nói để nó được làm quen với chữ Thánh hiền". Nghĩ sao làm vậy, khi cậu Bảng tập nói, hàng xóm đã thấy cậu bi bô "nhân chi sơ, tính bản thiện..." nên có người cho là một thần đồng. Năm 12 tuổi cậu Bảng đã biết đối và họa thơ với bố rất đúng luật và sâu sắc. Năm 19, cậu Bảng tham gia thi hương khóa Đinh Mùi (1847) đã đỗ tú kép. Ba năm sau (1850) ở khóa thi hương Canh Tuất, Xuân Bảng cùng với bố đi thi, ông Mền Hòe thất vọng vì lại đỗ tú tài lần thứ bảy, thì Xuân Bảng đỗ cử nhân nên đã tự an ủi mình "con hơn cha là nhà có phúc". Tân cử nhân Đặng Xuân Bảng được nhận chức giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương). Vừa làm quan lại vừa tự học và quan sát ghi chép để có tài liệu về ngôn ngữ, phong tục, tập quán của các địa phương. Năm 1856, ông lặn lội vào Huế thi Đình khóa thi Bính Tuất đỗ Nhị giáp Tiến sĩ, đáng lẽ đỗ Tam giáp nếu bài thi của ông không có đôi điều can gián vua bỏ thú ham săn bắn để tập trung vào việc nước trước nguy cơ Pháp có thể xâm lược nước ta. Tài học cao hiểu rộng của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng đã lọt đến tai vua Tự Đức nên năm 1857, vua đã triệu ông vào kinh đô Huế phong chức bí thư Văn phòng Nội các với nhiệm vụ nặng nề là duyệt bộ sách "Khâm định nhân sự kim giám". Ông làm công việc này ròng rã hai năm mới xong. Vua Tự Đức đọc những ý kiến đóng góp của ông rất hài lòng nên ban thưởng ngay cho ông chức tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa) sau lại điều lên Tuyên Quang làm tri phủ Yên Bình là nơi núi rừng hiểm trở, bọn thổ phỉ thường xuyên quấy nhiễu. Sau một thời gian ông cai quản Yên Bình đã trở về đúng cái tên gọi của nó thì ông lại được vua gọi vào Huế trao cho chức Giám sát ngự sử (1862) chức quan có nhiệm vụ ngăn vua, giám sát và hạch tội các quan trong triều. Ngoài nhiệm vụ trọng đại trên ông được phép tham gia để bàn bạc các vấn đề về hành chính, tài chính, sử dụng quan lại. ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp có chất lượng cao, trong đó không ít ý kiến của ông đã vượt thời đại. Đó là: không nên cử Phan Thanh Giản đem vàng bạc, châu báu để chuộc lại sáu tỉnh Nam Kỳ. Việc này Tự Đức bác bỏ. Kết quả vàng bạc thì Pháp vui vẻ nhận nhưng đất đai của sáu tỉnh thì không trả. Thế là ta mất cả chì lẫn chài! Ông lại tâu với vua cho mở mang công thương nghiệp, khuyến khích dùng hàng nội, không dùng hàng ngoại để ban thưởng. Việc sử dụng quan lại: Mỗi khi cất nhắc hay tuyển chọn quan dù là dân chính hay binh chính đều phải dựa vào tiêu chuẩn và công trạng rõ ràng, không chỉ dựa vào việc tâu trình của quan đầu tỉnh hay của các bộ mà xem xét được.

Nhà thờ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng tại xóm 7 Hành Thiện

Đặc biệt quan hệ với thực dân Pháp ông tâu:

- Theo thần, ta nên mở mang thông thương với nhiều nước, Pháp đã chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ thì thế nào chúng cũng nhòm ngó Bắc Kỳ. Nếu ta quan hệ với nhiều nước thì Pháp không có khả năng ép ta được. Trái lại, các nước sẽ cùng đua nhau đổ của vào làm lợi cho ta.

Tiếc thay, lời tâu chí lý này đã bị Tự Đức bác bỏ với lời phán lạnh lùng:

- Giao thiệp với một nước còn chưa xong, huống chi là nhiều nước.

Bên cạnh ta, nước Xiêm La (Thailand) đã mở cửa cho nhiều nước cùng vào nên họ không bị nước nào chèn ép, họ đã nhanh chóng tiếp thu các tiến bộ khoa học Âu-Mỹ nên đã hòa nhập được với thế giới văn minh mà dân tộc họ đã không bị hòa tan! Năm ất Sửu (1867) ở tỉnh Quảng Yên bọn hải tặc hoành hành khiến cho dân tình điêu đứng, quan lại thì bất lực. Ông lại được điều đến với chức Quan án sát để giúp dân dẹp giặc. Sau khi Quảng Yên yên vui, ông lại được điều về Hà Nội rồi lại đi Sơn Tây. Năm 1872, ở tuổi 44 ông Xuân Bảng được thăng chức Tuần phủ tỉnh Hưng Yên, sau lại làm Tuần phủ tỉnh Hải Dương. Năm 1874, Pháp mang quân xâm chiếm Hải Dương, quân ta thua trận, ông Xuân Bảng bị bãi chức Tuần phủ và triệu về kinh hậu xét. Năm 1876, ông bị giáng chức tuần phủ phái đi khai hoang ở Đồn Vàng, Hưng Hóa (Phú Thọ) và Bất Bạt (Sơn Tây) khi đi khai hoang ông cho gia nhân gánh theo mấy bồ sách và các tài liệu ông đã bỏ công ghi chép hàng ngày để nghiền ngẫm và bổ sung cho công việc viết sử sau này. Hai năm sau (1878), công việc vua giao cho đã hoàn tất, ông xin nghỉ hưu. Năm 1882, Tự Đức thấy việc bãi chức ông Đặng Xuân Bảng là vô lý nên lại phục chức cho ông. Nếu từ chối chức vụ cũ thì làm vua phật ý mà nhận lại chức thì không còn trí lực như xưa, nên ông Đặng Xuân Bảng xin nhà vua cho nhận chức Đốc học tỉnh Nam Định để hợp sức tuổi già và có điều kiện chăm sóc mẹ. Năm Mậu Tý (1888) khi vừa tròn 60 tuổi cụ Đặng Xuân Bảng xin nghỉ hưu lần thứ hai.

Mặc dù có thời gian và tài liệu đã được ghi chép và tích lũy ngót 40 năm nhưng cũng phải mất gần 20 năm Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng mới viết xong bộ "Việt sử cương mục tiết yếu" gồm tám quyển 1.200 trang.

"Đây là bộ thông sử duy nhất ở nước ta có ghi chú các sự kiện lịch sử từ thời Hùng Vương đến hết triều Tây Sơn (1802) có kèm theo các phần "án", chú, bình, khảo,... là những công trình khảo chứng lịch sử lớn nhỏ của tác giả và nhiều sử gia khác. Vì thế, nó có nhiều nét đặc sắc so với các bộ sử truyền thống khác. Tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu trong và ngoài nước, phân tích, tổng hợp vấn đề, chú ý tìm nguyên nhân của những thiếu sót để tiến hành phê phán, nên những vấn đề khảo chứng có sức thuyết phục" (Luận án Tiến sĩ của Hoàng Văn Lâu - Viện nghiên cứu Hán Nôm), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2-1997).

Sinh cùng thời với cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909), cụ Nguyễn Khuyến từ quan để về câu cá, làm ruộng, làm thơ,... chỉ có "năm gian nhà cỏ thấp le te, ngõ tối đêm sâu đóm lập lòẹ.." đời sống đạm bạc "đầu trò tiếp khách trầu không có" thì cụ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng hai lần về hưu với hai bàn tay trắng. "Cụ về xã Văn Lâm lập ấp, đặt tên là Tả Thành Thiện cụ nói với con cháu: "Bởi cả đời ta đi làm quan nên không có của cải để lại, may còn mảnh đất này của ông cha, các con lo cày cấy lấy cái ăn. Quê ta nhiều thế gia cự lộc quen sống xa hoa, đừng bắt chước họ, hãy lập nghề nông cho quen khó nhọc...".

Sau khi bộ sử gồm tám quyển với 1.200 trang viết tay, viết xong thì được người bạn chí cốt là Cao Xuân Dục tặng 20 lạng vàng để cụ Đặng Xuân Bảng thuê in ấn lưu lại cho muôn đời. [...]

read more “Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng(1828-1910)”

Đình làng Hành Thiện

Làng ta có một ngôi Đình, nguyên trước chỉ dùng để làm nơi hội họp và tuyên đọc 10 điều của nhà Vua ban huấn cho dân chúng nghe chứ không dùng để thờ Thần như Đình các làng khác.

Đình ở ngay bên sông con phía giữa làng, giáp với làng trong, lâu ngày bị hư nát, năm Thành Thái thứ 16 (1904) cụ Tổng đốc Đặng Đức Cường và cụ Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn cúng tiền để tu lý lại (Cụ Đặng Đức Cường cúng 1000 quan tiền, cụ Nguyễn Duy Hàn cúng 500 đồng bạc), làm bằng gỗ lim lợp ngói, chung quanh xây gạch.

Trong Đình có treo 1 cái biển khắc chữ “Mỹ Tục Khả Phong” của triều vua Tự Đức ban cấp năm Tự Đức thứ 16 (1861).

Câu đối treo ở Đình:

Kinh thủy tô sơ công, thử thức quách, thử viên dung, rĩ hữu niên vu tu thổ.
Thái bình đa hạ nhật ngã nhân dân. Ngã phụ lão, tương giữ lạc vu thử đình.


Mười điều ban huấn là:

1. Đôn nhân luân,
2. Chính tâm thuật.
3. Thượng tiết kiệm,
4. Hậu phong tục,
5. Huấn tử đệ
6. Vụ bản nghiệp,
7. Sùng chính học,
8. Giới dâm thắc,
9. Thận pháp thủ,
10. Quảng Hành Thiện.

Theo Hành Thiện Xã Chí - Đặng XuânViện

dinhhanhthien02

Sân Đình làng Hành Thiện

dinhhanhthien03

Nhà Bia

dinhhanhthien01

Đình chính

read more “Đình làng Hành Thiện”

Làng Hành Thiện xưa và nay

Từ thành phố Nam Định phải đi một chặng xe buýt, rồi một cuốc xe ôm theo con đường trải nhựa phẳng lì, men theo những cánh đồng đang vào mùa gặt, mùi khói rơm rạ thoang thoảng khắp không gian, chúng tôi đến làng Hành Thiện, thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường. Hành Thiện là một vùng đất nổi tiếng hiếu học, đất quan và cũng chính trên mảnh đất này đã sinh ra cố Tổng bí thư Trường Chinh.

05-lang-hanhthien-33507-300

Làng Hành Thiện như một thị trấn nhỏ, nhà cửa cao tầng san sát, đường làng lát gạch đỏ au trong nắng vàng, chợ búa tấp nập, hai bờ kênh được kè đá sạch sẽ, những rặng liễu bình yên rủ bóng ven bờ. Từ bên này kênh nhìn sang, làng Hành Thiện giống như con cá chép quẫy lên. Có lẽ khi lập làng, các cụ xưa đã muốn con cháu sau này luôn ở tư thế đi lên. Làng có hơn 10 xóm, mỗi xóm là khúc của thân con cá, các xóm đều thông nhau, có thể len lách từ xóm này sang xóm nọ theo đường tròn. Những con đường liên thông đó được ví là sợi dây liên kết tình làng nghĩa xóm. Hành Thiện mang trong nó đặc trưng khá rõ nét của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ và những nét đẹp của văn hóa làng quê truyền thống Việt Nam. Bản hương ước xưa của làng vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Trong đó có một quy ước là định hướng con em theo việc học. Việc học được quan niệm trước hết là để học làm người, biết đối nhân xử thế, có đạo nghĩa, và sau đó học cũng chính là một nghề. Cũng bởi vậy, ngoài việc là nơi sinh ra nhiều người tài thì Hành Thiện còn là mảnh đất mà cuộc sống luôn an bình, mọi người yêu quý tôn trọng lẫn nhau. Điều này có thể thấy ngay khi bước vào làng Hành Thiện, một cảm giác bình yên, người dân hiền hoà, chăm chỉ. Điều đặc biệt khi đặt chân đến đây là các thiết chế văn hóa truyền thống vẫn còn được lưu giữ và bảo tồn. Hiện làng vẫn còn hàng trăm ngôi nhà cổ, có nhiều ngôi nhà đã được công nhận là di tích cổ, có giá trị. Nhiều miếu thờ, văn chỉ, võ chỉ trải qua thời gian đã bị xuống cấp, sụp đổ nay được khôi phục lại, trong đó có chùa Keo nổi tiếng, là điểm đến của khách thập phương…


Có thể nói, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, sự biến động của xã hội, thật đáng quý là Hành Thiện vẫn giữ lại cho mình những thiết chế văn hóa cũng như những nét đẹp truyền thống của một làng quê Việt Nam xưa. Đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những nét đẹp truyền thống đó được người dân Hành Thiện nâng niu, gìn giữ và phát huy để tiếp tục phát triển. Hưởng ứng cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, làng Hành Thiện luôn đi đầu và là một trong những làng quê văn hóa tiêu biểu của cả nước. Làng được công nhận là làng văn hoá cách đây 8 năm. Trong làng có 1.200/1.621 gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hoá, mọi người trong làng yêu thương chia sẻ, giúp đỡ nhau, mọi đóng góp đối với địa phương đều thực hiện đầy đủ, kinh tế từng hộ ổn định. Ông Nguyễn Vũ Thịnh, Chủ tịch UBND xã Xuân Hồng cho biết: Làng Hành Thiện luôn được xem là điển hình gương mẫu trong thực hiện xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư, gia đình văn hoá.

Rõ ràng từ nền tảng đã được gây dựng từ xa xưa, với thái độ trân trọng, giữ gìn và biết phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống, người dân Hành Thiện đã xây dựng ngôi làng của mình trở thành một điển hình, hiện thân của truyền thống và hiện đại. Chi hội trưởng Chi hội Khuyến học làng Hành Thiện Nguyễn Đăng Hùng cho biết: So với các nơi khác cuộc sống của làng khá bình yên, ít khi xảy ra va chạm và những tệ nạn hầu như không có, đời sống ngày càng đi lên, khá giả. Tôi tin rằng, chúng tôi có được điều này chắc chắn đó là do làng có một truyền thống hiếu học, tôn trọng đạo nghĩa. Nó là nền tảng, cội nguồn của mọi nét đẹp khác.

Đinh Thị Loan


Nguồn Người đại biểu Nhân dân

read more “Làng Hành Thiện xưa và nay”

Việc thi cử của các triều vua dưới dạng các con số

Dưới đây là phần trích trong nghiên cứu "Việc thi cử của các triều vua dưới dạng các con số" của Vietsciences-Nguyễn Văn Lục có nói về làng Hành Thiện trong phần miền Bắc

Tỉ Lệ Thi Đỗ Tại Bắc Kỳ.

Ngoài Bắc, thì số người đỗ đạt tập trung nhiều nhất ở 14 biên trấn quanh Hànội mà cái trục chính là Sơn Tây, Hải Dương và đặc biệt là Nam Định. — tỉnh Nam định thì đặc biệt là vùng Hành Thiện đã phá kỷ lục về số người đỗ với 73 người từ năm Gia Long 1813 cho đến lúc chấm dứt thi cử 1918. Nghiã là tròn 100 năm.

Xã Hành Thiện, tỉnh Nam Định.

Trong bài này, chúng tôi thấy phải dành riêng một phần để nói về xã Hành Thiện. Xã Hành Thiện thuộc huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định. Xã có 18 (Giông). Giông là tiếng địa phương để chỉ những con đường, hai bên có nhà cửa. Đó cũng là lối tổ chức nhà cửa xây cất có thứ tự của làng Hành Thiện. Trong QTHKL tôi thấy mãi đến năm Gia Long 1813 (Gia Long lên ngôi 1802), mới có Nguyễn trọng Trù là người đầu tiên thi đậu. Sau đến năm 1821 có 2 người em của Nguyễn Trọng Trù đậu cùng khoa. Và cũng kể từ đó liên tiếp các khoa thi đều có người của làng Hành Thiện thi đậu.

read more “Việc thi cử của các triều vua dưới dạng các con số”

Bước đầu kiểm kê lại những tác phẩm của Đặng Xuân Bảng trong kho sách Hán Nôm

BƯỚC ĐẦU KIỂM KÊ LẠI NHỮNG TÁC PHẨM

CỦA ĐẶNG XUÂN BẢNG

TRONG KHO SÁCH HÁN NÔM

HOÀNG VĂN LÂU

Đặng Xuân Bảng là một nhà hoạt động xã hội, nhà giáo dục học... Nhưng ông rất có ý thức hoạt động sáng tác ở mọi hòan cảnh. Khi lên nhận chức Bố chính ở Tuyên Quang, bọn tàn quân Ngô Côn(2) đánh phá khắp nơi thổ phỉ nổi lên như ong “Quê khách gặp người toàn chuyện giặc, khắp nơi làng bản chỉ quân binh”(3). Thế mà ông vẫn làm thơ. Số thơ này, sau tập hợp thành tác phẩm Như Tuyên thi tập.

Lại, thời gian bị đầy ở Đồn Vàng, Hưng Hóa, rừng thiêng, nước độc, ông bị ngã nước, bị lên nhọt, nhưng vẫn tận dụng thời gian biên soạn bộ Nam phương danh vật bị khảo. Ông nói: “Tôi đi làm quan các nơi, mỗi khi gặp sự vật gì, thì đều cho kiểm tra lại, rồi thuận tay cầm bút ghi chép. Thường tiếc là các sách của bậc tiền bối còn nhiều thiếu sót và sơ lược. Năm Kỷ Mão (1879) bị đầy ở Đà Giang, tôi nhân dịp ấy đem các sách của cổ nhân và chư vị tiền bối nước ta, sách Nhất thống chí của bản triều và những gì bản thân ghi chép được hàng ngày ra khảo đính lại, chỗ còn thiếu thì bổ sung, chỗ sai lầm thì đính chính, chỗ chưa biết thì để trống, chia thành môn loại, chú âm Việt, ghi rõ hình trạng để làm tài liệu tham khảo” (Nam phương danh vật bị khảo tự).

read more “Bước đầu kiểm kê lại những tác phẩm của Đặng Xuân Bảng trong kho sách Hán Nôm”

Họ Đỗ Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường,Nam Định

HỌ ĐỖ XÓM 5 LÀNG HÀNH THIỆN

XÃ XUÂN HỒNG, XUÂN TRƯỜNG, NAM ĐỊNH
(tin từ ông Đỗ Bắc Biệt).

1/ Từ đường họ Đỗ ở xóm 5 (xóm Ngũ Phúc), Hành Thiện thờ cụ Tổ là Đỗ Đức Định, bị xung quanh tranh chấp đất đai, làm ô uế khuôn viên Từ đường. Tháng 1/2007 nhờ chính quyền địa phương can thiệp, con cháu đã tiến hành tu sửa lại Từ đường, xây tường bao quanh. Tuy việc lập sổ đỏ cấp giấy chứng nhận sở hữu đất chưa làm được nhưng con cháu được sự giúp đỡ của chính quyền sẽ làm ngay để tiến hành nâng cấp Từ đường cho khang trang.

2/ Gia phả họ Đỗ Hành Thiện do cụ Nguyệt Hiên Đỗ Ngọc Bá phụng thảo ngày 26 tháng Chạp năm Mậu Tý (1949) đời thứ 10 ngành Giáp có ghi Đỗ Bội Quỳnh con cụ Đỗ Ngọc Ái như sau: "Ông sinh năm 1924 mất năm 1949 khi công tác ở Công an". Gia phả chỉ ghi được bằng ấy chữ vì thời gian đó là thời kỳ "hai năm bốn tháng" giặc Pháp đàn áp khốc liệt nhất, phá vỡ nhiều cơ sở cách mạng, nhiều gia đình có người tham gia kháng chiến bị bắt, giết, tù đày. Trong nhiều năm, ông Đỗ Thế Viêm đã đi tìm chiến công của ông Đỗ Bội Quỳnh. Tháng 1/2007 được sự giúp đỡ của ông Nguyễn Đức Minh, Thiếu tướng, nguyên Viện trưởng V21 (ĐT 048551192) và ông Đỗ Văn Hào công an huyện Xuân Trường (ĐT 0350754022) đã làm hồ sơ liệt sĩ Đỗ Bội Quỳnh, sinh thời là Quận trưởng Công an Hoàn Kiếm, Hà Nội, về họp tại Ứng Hoà, Hà Đông bị giặc Pháp ném bom, hy sinh ngày 2-9-1949. Hiện nay gia đình cụ Đỗ Ngọc Ái còn em ruột ông Đỗ Bội Quỳnh là ông Đỗ Bội Quyết. Ông Đỗ Thế Viêm đã liên hệ được với ông Quyết ngày 24-1-2007.

Nguồn Họ Đỗ Việt Nam

read more “Họ Đỗ Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường,Nam Định”

Chi họ Vũ làng Hành Thiện

CHI HỌ VŨ LÀNG HÀNH THIỆN

- HUYỆN XUÂN TRƯỜNG (NAM ĐỊNH)

Trích Gia phả

Được biết: khoảng cuối thế kỷ thứ 15, một trong những con cháu Cụ Vũ - Hồn, tên Vũ Chân Tâm(*) đã cùng gia đình di cư từ làng La Xá huyện Thanh Tâm, tỉnh Hải Dương đến định cư tại làng Đế Trạch, sau là Phương Để, trấn Sơn Nam tỉnh Nam Định.

Đến đời thứ 9 con cháu Cụ Vũ Chân Tâm là Cụ Vũ Huệ Trì đã rời bỏ làng Đế Trạch đến cư ngụ tại khu chùa ngoài làng Hành Thiện ngày nay mà khi đó gọi là Hành Cung Trang thuộc Phủ Xuân trường, tỉnh Nam Định.

SỰ HÌNH THÀNH HỌ ĐẶNG – VŨ TẠI LÀNG HÀNH THIỆN

Cụ Vũ Thiên Thể tức Vũ Huệ Hồi sanh năm Giáp Dần 1734 đời Vua Lê Huệ Tông, mất ngày 24 tháng 1 năm Mậu thìn nhằm 09 – 01 – 1809 hưởng thọ 75 tuổi.

Năm 1755 (21 tuổi) Vũ Thiên Thể lấy con gái Ông Bà Đặng Phước Long người Làng trong Hành Thiện tên Đặng Thị Từ Giảng, vì ân nghĩa và vì quyền lợi thiết thực đã đổi thành Đặng Thiên Thể.

Năm 1884 cháu 3 đời ông Tú tài (2 lần) Đặng Vũ Nghĩa đề xướng việc ghép thêm chữ Vũ sau họ Đặng cốt để cho con cháu sau này không quên Tổ của Tổ Mẫu thành Đặng Vũ Thiên Thể và họ Đặng Vũ xuất hiện từ năm 1884. Tuy nhiên về sau cũng có một số con cháu Tổ đã thay chữ Vũ bằng chữ khác như Cụ Tú tài Đặng Cao Kình, Cụ Đặng Quốc Kiều, Cụ Đặng Cao Phan…tuy nhiên vẫn duy trì tinh thần con cháu Tổ Đặng Vũ.

ĐẶNG VŨ BỔNG Sao lục Phả Ký Đặng Vũ

--------------------------------------------------------------------------------

(*) Trong phả họ Vũ Mộ Trạch chi Hiển đức có chép: khai tổ chi III (Hiển Đức, là Vũ Hữu được phong tặng Toán trạng và được ban thưởng 100 mẫu đất ở Tào Nha Nam Xương, mặc dù làm chức đại quan trong triều, nhưng nhà nghèo không có điều kiện khai khẩn canh tác nên một phần lớn cho nông dân địa phương đó làm rẽ, một phần trao cho bà Thứ thất mà Cụ cưới ở vùng đó, không biết bà này có bao nhiêu con trai, con gái chỉ biết qua lời truyền miệng của dân vùng này thì: Cụ Thượng Hữu có người con trai tên là Vũ Tán làm chất Đồng Tổng Quản ở Sơn Nam đã để con cháu khẩn hoang lập đất ở miền này. Chữ Tán còn một âm là TÂM (trong từ Tâm Tâm có nghĩa là lòng dạ hăng hái (vậy có thể nào là Vũ Chân Tâm chăng ???)). BBT


Nguồn Dòng họ Vũ Võ

read more “Chi họ Vũ làng Hành Thiện”