Một thoáng văn hóa Hành Thiện

Tôi đi chùa đã nhiều, chiêm ngưỡng cảnh Phật cũng nhiều, nhưng đến chùa Keo Hành Thiện lại mang một cảm giác khác, suy nghĩ khác, nhất là được nghe những chuyện kể về vị Thiền Sư Dương Không Lộ - người có học vấn uyên thâm về Phật Pháp và đã tu luyện thành thần tiên và còn bao nhiêu chuyện lạ về ông... càng nghe càng kính phục, càng ngưỡng mộ về con người huyền thoại này.

52e17d3dcc

GS Vũ Khiêu giới thiệu về lịch sử dòng họ Đặng - Vũ


TỪ ĐƯỜNG HỌ ĐẶNG - VŨ

Chúng tôi nhận lời mời của GS anh hùng lao động Vũ Khiêu về dự lễ khánh thành nhà từ đường của một chi họ Đặng Vũ ở làng Hành Thiện. Đây là một làng cổ nổi tiếng, nơi đã sinh ra cố Chủ tịch nước, cố Tổng Bí thư Trường Chinh và cũng là nơi sinh ra nhiều danh nhân văn hóa họ Đặng Vũ, trong đó có GS Vũ Khiêu, người anh hùng lao động uyên bác vào bậc nhất, cũng là người trí thức cao niên nhất, hiện còn khoẻ mạnh dù đã 94 tuổi đời.
Sau hai tiếng đồng hồ vượt 130 cây số đường trường, chúng tôi đã đến điểm tập kết - UBND Huyện Xuân Trường, một huyện đường to đẹp không kém gì một số tỉnh đường khác. Tiếp chúng tôi là Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định Trần Minh Oanh, cùng bí thư, chủ tịch huyện Xuân Trường. Tất cả đều nhiệt tình mến khách, thể hiện rõ phong cách con người đất thành Nam. Chúng tôi được nghe Chủ tịch Trần Minh Oanh nói về niềm tự hào của vùng đất khu 3 nói chung và Nam Định nói riêng, nơi mà trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, nơi mà đã có hàng triệu người tham gia ở các chiến trường miền Bắc cũng như miền Nam, cũng là nơi khởi nghiệp của vương triều Trần với hào khí Đông A... Nam Định, đất Văn hiến ngàn năm, cái rốn của văn hoá sông Hồng, có Phủ Thiên Trường với biết bao danh lam thắng cảnh, danh nhân nổi tiếng, nơi có nghệ thuật chèo, có múa rối nước, ca trù, hát chầu văn, múa lục cúng và có cả nghệ thuật hiện đại nữa.
Chúng tôi tiếp tục đến làng Hành Thiện cách cơ quan huyện Xuân Trường sáu cây số. GS Vũ Khiêu ra tận cưả đón khách. Ngôi nhà từ đường thuộc một chi họ Đặng - Vũ vừa mới được khôi phục lại theo kiểu dáng cũ, gồm hai gian, hai chái và một sân rộng, cây cỏ xanh tươi. Gian bên trái là thờ một nhà nho yêu nước, Cụ cử nhân Đặng Vũ Lễ người đã đào tạo rất nhiều học sinh theo cụ Phan Bội Châu sang Trung Quốc và Nhật Bản. Gian bên phải là phòng lưu niệm di vật của những người con yêu nước của Cụ, đặc biệt là con rể Cụ, là nhà cách mạng Phạm Tuấn Tài, người cùng Nguyễn Thái Học sáng lập ra Quốc dân Đảng, sau trở thành liệt sỹ cộng sản. Gian naỳ cũng đồng thời là nơi lưu giữ những kỷ vật và tài liệu quý của GS Vũ Khiêu.
Buổi lễ khánh thành nhà truyền thống của chi họ được tiến hành gọn nhẹ và trang nghiêm, sau lễ dâng hương, GS Vũ Khiêu nói về lịch sử dòng họ Đặng Vũ mà ông Tổ là gốc họ Vũ và con nuôi họ Đặng. Đây là sự ghép hai họ Vũ và họ Đặng để ghi ân của người sinh và người dưỡng, một cách làm hơi khác lạ, nhưng lại thể hiện được truyền thống văn hoá Việt:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

THĂM CHÙA KEO HÀNH THIỆN
Nói đến Hành Thiện là nói tới chùa Keo, di tích văn hoá được toàn quyền Đông Dương liệt vào “cổ tự” (1952) và được Bộ văn hoá Việt Nam dân chủ Cộng hoà xếp hạng quốc gia từ năm 1962. Đây là ngôi chùa cổ vào bậc nhất được xây dựng từ thời Lý và cũng có nhiều cái nhất về kiến trúc, truyền thuyết, về tính thiêng liêng và huyền thoại ly kỳ... Vì thế mà giáo sư khuyên chúng tôi nên đi thăm chùa Keo.
Ông trưởng ban quản lý di tích đã cao niên nhưng còn nhanh nhẹn và nhiệt tình đưa chúng tôi đi thăm chùa. Keo cách đó chừng hơn một cây số. Ông cho biết: Trên đầu tư cho chùa hai tỷ đồng để trùng tu toàn bộ Tháp Chuông và hai dãy hành lang. Công việc đang gấp rút hoàn thành cho kịp ngày khai mạc lễ hội vào 15 tháng 8 ÂL. Ông giải thích: Chùa Keo còn gọi là chùa Thần Quang (Thần Quang Tự), chùa được xây dựng từ thời Lý nhưng năm tháng vật đổi sao dời, thiên tai tàn phá nên chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu phục dựng như bài ký trùng tu đã ghi:

Phía trước dùng xà giang chầu vào bao la vạn khoảnh
Phía sau sông Hoàng Giang vòng lại bát ngát ngàn tầm
Bể Nam Hải uốn quanh từng khúc phô hình dải lụa xanh
Dãy rừng cây tua tủa vươn cao như búi tóc mây sắc lục

Thiên tai tàn phá, thậm chí dạt cả một bộ phận người làng Dũng Nhuệ sang bên kia sông Hồng về đất Vũ Thư Thái Bình để sau đó họ lại xây dựng một chùa Keo khác thành “Chùa Keo Dũng Nhuệ” và đều thờ chung một vị thánh Không Lộ, tức Khổng Minh Không. Từ xa đã nhìn thấy chùa Keo Hành Thiện được xây dựng trên một khu đất rộng mênh mông, cảnh quang thật đẹp như bài minh trên bia chùa Thần Quang đã mô tả:

Biển xanh ở phía Đông
Sông Hồng quanh phía Bắc
Phía Nam sông bao bọc
Nước lững lờ chảy quanh
Phía Tây núi dựng thành
Rừng xanh xanh trùng điệp.


Cảnh chùa thật hùng vĩ và hữu tình không chê vào đâu được.
Chùa Keo xây theo luật Tiền Phật, Hậu Thánh. Toà phía trước thờ Phật, toà phía sau thờ Thánh, hai dãy hành lang tả hữu kéo dài hàng trăm mét nay được dỡ ra làm mới hoàn toàn bằng gỗ lim vàng óng.
Trước khi bước vào nội thất ngôi chùa, ta được chiêm ngưỡng gác Chuông cao tầm 8 mét, với 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng có chạm khắc hoa văn cánh sen nở, thể hiện cái kỳ vĩ của một công trình Phật giáo có một không hai. Gác chuông này cũng đang được trùng tu cho đồng bộ với hai dãy hành lang, chắc chắn sẽ làm thoả mãn khách hành hương trong kỳ lễ hội chùa Keo năm nay và những năm tới. Nối tiếp với Tháp Chuông là một không gian rộng lớn nơi bày những hiện vật như voi, ngựa, kiệu các loại, thuyền bơi chải để phục vụ lễ hội bên ngoài chùa.
Bước vào toà Tam Bảo, tôi thật sự kinh ngạc trước những pho tượng Đức Di Đà, Quan Thế Âm Đế Chí, tượng vua Đế Thích, rồi tượng Ngọc Hoàng, Bắc Đẩu Nam Tào, tượng Hộ Pháp... Tiếp theo là tầng tầng lớp lớp tượng Phật thật sinh động và uy nghiêm, nhất là khi có tiếng chuông chùa rung lên đâu đó và ngân vang trong cảnh hoang tịch thiêng liêng thì người ta cảm thấy như các pho tượng đang “nói chuyện” với mình...
Tôi đi chùa đã nhiều, chiêm ngưỡng cảnh Phật cũng nhiều, nhưng đến chùa Keo Hành Thiện lại mang một cảm giác khác, suy nghĩ khác, nhất là được nghe những chuyện kể về vị Thiền Sư Dương Không Lộ - người có học vấn uyên thâm về Phật Pháp và đã tu luyện thành thần tiên và còn bao nhiêu chuyện lạ về ông... càng nghe càng kính phục, càng ngưỡng mộ về con người huyền thoại này.
Cảm ơn giáo sư, anh hùng LĐ Vũ Khiêu, người con ưu tú của Hành Thiện đã tạo cho tôi cơ hội được đến với mảnh đất địa linh nhân kiệt, được nghe, được nhìn những gì về quang cảnh thiên nhiên hùng vĩ về di tích văn hoá, về con người văn hoá Hành Thiện nổi tiếng từ xưa.

Nam Định - Hà Nội 04/09/2008


Nguồn Văn hiến Việt Nam

read more “Một thoáng văn hóa Hành Thiện”

Lời nguyền ở chùa không... Sư

Chuyện rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà với đạo Phật và khói nhang, tượng Phật. Thuở đó, Đức Thánh tổ nổi giận trừng phạt dân gian. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng Phật vào đó.

Rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Và tất cả tượng Phật, cái gì liên quan đến nhà Phật cũng xuôi theo dòng nước, theo ngài về nơi đất mới. Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên...

Cho đến tận bây giờ, chẳng sư nào trụ lại được ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm phần kỳ bí... Ngôi chùa bề thế đó, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong và cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng lại không có bóng dáng của áo thâm, nón tu-lờ - chùa không có sư ở, có vẻ lạ ở trên đời ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, Nam Định.

chua-keo-26

Người giữ... “lời nguyền”

Chúng tôi đến thăm chùa không sư vào tờ mờ sáng, khi chưa có khách hành hương về đất Phật. Nhìn ngắm ngôi chùa trong sương sớm, lại ngược thời gian nghe huyền thoại, chợt xao lòng, thấy ngôi chùa thêm bao phần kỳ bí mà chưa ai rõ thực hư của vấn đề.

Ông Thủ từ Nguyễn Trường Lý từ trong xóm nhỏ đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Một không gian chùa qua 400 năm đang được “cách ly” với bên ngoài bỗng vỡ òa trong chốc lát, tượng Phật, màu ngói rệu rã rêu phong như làm sửng sốt cho những người lạ chúng tôi.

Như đoán được suy nghĩ của khách, ông kể rằng: Kể từ khi ngôi chùa này có mặt trên doi đất hình con cá chép này thì tổ tiên nhà ông là những Thủ từ truyền từ đời này qua đời khác, những khi có việc làng, trùng tu hay lễ hội thì ông lại bàn giao cho làng sử dụng. Lúc hội làng sắp mở, làng bắt đầu cắt cử đội bảo vệ chùa, chọn ông chủ lễ phải là người “đức cao vọng trọng”. Thường người được chọn là bậc cao niên, hai ông bà còn song toàn, phải thượng thọ, được ăn yến lão.

Khi hội làng vừa xong, lại bàn giao ngôi chùa này cho ông Thủ từ. Nên, mọi lịch sử, biến đổi đều do Thủ từ ghi chép lại trong cuốn “Hành thiện xã chí”, Ông vừa làm nhiệm vụ khói nhang cho đức Phật.

Ông Thủ từ cho biết: “Bố tôi kế nghiệp của ông tôi, ông tôi kế nghiệp của cố... đã qua 20 đời nhà tôi làm nghề Thủ từ. Và đến đời tôi, cũng phải ghi chép đầy đủ mọi cái diễn ra, từ cái nhỏ, đến cả tên tuổi, ngày tháng năm sinh của các Thủ từ. Nên cũng từ đó, ngôi chùa có bao nhiêu bí mật đều nằm trong cuốn “Hành thiện xã chí” cả, nhưng số người được tiếp cận tính đến nay thì rất hiếm”.

Cuốn “Hành thiện xã chí” còn ghi, cách đây mấy trăm năm, chùa đã từng có rất nhiều vị sư hành khất đến, ở được một thời gian, thấy trong người khó ở, lại khăn gói ra đi bởi nhiều điều không ngộ ra giáo lý của ngôi chùa, cũng bởi trong người có một cái gì đó rối rắm như tơ vò mà ra đi không giải thích lý do gì. Ông Thủ từ cho biết: “Cách đây vài năm, có một vị sư khăn gói từ Thái Bình lên, quyết tâm xin ở lại tu đạo và cũng là nghiên cứu, hóa giải lời nguyền nhưng rồi cũng phải ra đi.
Lúc đó, Thầy bảo tôi là bị nhức đầu, suy nhược thần kinh, không đủ khả năng để tịnh cái tâm, phải đi mới yên ổn”.

Từ đó, câu chuyện về chùa không sư lại tăng thêm phần kỳ bí, nhưng đến giờ chưa một nhà làm khoa học, học thuật hoặc nhà sư nào hóa giải nổi tính khí huyền thoại của ngôi chùa. Còn ông Thủ từ kín đáo ấy, có bao nhiều bí mật về ngôi chùa lạ, ông mãi giấu những điều bí mật thuộc về giới đạo chăng?

chua-keo-21

Lịch sử chùa không sư

Trong cuốn “Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập” có ghi, chùa Hành Thiện do thánh Không Lộ Thiền sư (1016- 1094) xây cất. Thiền sư Không Lộ xuất thân trong một gia đình họ Dương, làm nghề ngư phủ, lớn lên ông xuất gia theo thiền sư Lôi Hà Trạch. Truyền thuyết còn kể lại rằng, khi viên tịch, ông hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên khúc gỗ trầm hương biến thành tượng.

Thánh tượng này còn được lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, không cho ai được thấy dung nhan của ngài. Cứ phải qua 12 năm, một chủ lễ và 4 viên chấp sự được cử để làm lễ trang hoàng tượng thánh. Nên rất nhiều du khách đến chùa muốn xem “mặt ngài” cũng phải đợi 12 năm mới có dịp.

Nói thêm về phần chọn người tắm rửa, trang hoàng cho ngài cũng phải thuộc những người có nhân phẩm, ăn chay, mặc quần áo mới. Sau khi rước thánh ra từ cấm cung mới dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho ngài. Nhưng họ buộc phải giữ bí mật cho đến khi chết mang đi về những điều đã thấy khi trang hoàng cho ngài. Điều đó càng tạo nên lớp sương mù bí hiểm bao bọc lấy ngôi chùa nhiều huyền thoại này...

Nghiên cứu thêm về lịch sử của chùa

Chùa Hành Thiện mang dấu tích của chùa Keo ở làng Dũng Nhân, Giao Thủy, Nam Định. Vì năm 1061, Không Lộ Thiền sư dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn sông Hồng, theo thời gian, chùa bị nước làm cho xói mòn. Đến 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích của ngôi chùa. Dân làng Keo phải rời bỏ quê cha đất tổ, một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông bắc tả ngạn sông Hồng (Về sau, dựng nên chùa Keo Thái Bình). Còn một phần xuống Xuân Trường, Nam Định, dựng chùa Hành Thiện và tồn tại cho đến tận bây giờ.

Bao giờ giải được “lời nguyền”? Chúng tôi đã cố gắng vén một chút về bức màn bí ẩn này, thế nhưng đến nay cũng chỉ biết được về lịch sử ngôi chùa: Chùa là một trong hai ngôi chùa gắn với tên tuổi của nhà sư Không Lộ. Ông có công truyền bá rộng rãi đạo Phật trong dân gian. Khởi nguồn về mô hình của Chùa Hành Thiện được tính từ hồi 1062, thời Tiền Lý, người ta di dân đến xây mô hình chùa ở làng Dũng Nhuệ- Giao Thủy.

Sau đó về đất Hành Thiện vào năm 1588, sang Thái Bình năm 1611, về mặt quy mô chùa Keo Thái Bình lớn hơn chùa Keo Hành Thiện, bề thế hơn nhưng cấu trúc lại sao chép như nguyên vẹn; Cả hai chùa đều dựng bằng gỗ Lim, kết với nhau bằng mộng tre, mộng vược.... và mang cấu trúc thời Tiền Lê, thời kỳ Phật giáo phát triển thịnh vượng nhất ở nước ta.

Trải qua ngàn năm Bắc thuộc, rồi đến thời kỳ kháng chiến chống pháp, chống Mỹ, chùa Hành Thiện vẫn uy nghi, nhiều phen bọn thực dân Pháp có ý đồ phá, mà do sự tích kỳ bí về chùa quá lớn đến nỗi họng súng của bọn giặc cũng không dám nhóm ngó tới. Ngày xưa, Thái Bình, Nam Định là những nơi nằm trong các dự án di dân dưới các triều đại phong kiến.

Dân hai bên sông Hồng chạy lũ, kéo theo đủ nét văn hóa, phong tục, từ văn minh lúa nước đến tín ngưỡng đạo Phật mà cụ thể là đem theo cấu trúc cũng như mô hình chùa chiền đến vùng đất mới. Đói kém, mất mùa, thiên nhiên bạc đãi, thú dữ… là những thế lực mà con người sợ. Thế nên người ta tôn sùng ngài Không Lộ Thiền sư, người đi đâu, đem ngài theo đó để thờ cúng, như một biểu tượng của sự che chở tinh thần.

Nên khi chùa Hành Thiện được dựng lên, những cái gì thuộc về nguyên sơ mà người ta đem đến đều được tôn sùng, giấu kín để thờ phụng, thì đến nay, nhiều thứ còn lại thuộc về di sản đó đang là điều bí mật, không được công bố cho dư luận cũng là điều thường thấy ở các chùa chiền. Nhưng đó cũng là yếu tố để tạo nên những huyền thoại về thánh thần nơi cửa Phật...

Còn về vấn đề sao các sư không sống được ở chùa, trong một số sách, trong đó có cuốn “Hành Thiện xã chí” của gia tộc Thủ từ cũng có đề cập đến: “Có thể, do không quen với thổ nhưỡng, chướng khí... Mà cụ thể là cơ địa con người, nhà sư đạo cao cũng là người, thì không hợp chất đất, nguồn nước... là phải.
Thì sinh ra ốm đau, bệnh tật, ở lâu có sư bị “viên tịch” ngoài ý muốn là phải”.

Như vậy, mới có chuyện sinh ra các sư đến lưu trú, hành đạo, tu đạo trong chùa sẽ bị ốm, bệnh, chết... rồi bỏ đi chăng? Về cơ sở lý thuyết này, đến nay vẫn chưa có nhà khoa học, tổ chức nào nghiên cứu cụ thể, sát với thực tế, vấn đề “lời nguyền” trong truyền thuyết làm cho câu chuyện về “chùa không sư” thêm phần huyền bí.

Dẫu chùa không sư, không vãi, không tiếng mõ vang âm nhưng ngôi chùa vẫn tồn tại với thời gian. Du khách đến đây ngoài tìm lại bản chất con người nơi cửa chùa ra, còn tìm về huyền thoại, tín ngưỡng của cha ông ta- những điều chưa biết chăng?


Nguồn Phật tử Việt Nam

read more “Lời nguyền ở chùa không... Sư”

Không chỉ có một chùa Keo

Nhắc đến tên chùa Keo, thường người ta nghĩ đến ngôi chùa Keo ở Thái Bình. Không mấy người biết đến ngôi chùa “Keo” khác thuộc xã Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định - Một ngôi chùa không có sư nhưng trải qua hàng trăm năm vẫn sừng sững uy nghi và được bao phủ thêm bởi những lớp lang huyền thoại.


chua-keo-41

Chùa tọa lạc trên một khu đất cao nổi lên nơi đầu mom rô

(gò đất cao nơi cửa sông - TG), án ngữ bờ sông Hồng vào làng Hành Thiện.

Dấu tích đầu tiên của chùa Keo là ở làng Dũng Nhân (huyện Giao Thủy - Nam Định) (?). Năm 1061, Không Lộ dựng chùa Nghiêm Quang bên hữu ngạn sông Hồng. Theo thời gian, nước sông Hồng xói mòn dần nền chùa; đến năm 1611, một trận lũ lớn đã cuốn trôi tất cả các dấu tích, cả làng mạc lẫn ngôi chùa. Dân làng Keo phải dời bỏ quê cha đất tổ, một nửa vượt sông đến định cư ở phía đông Bắc tả ngạn sông Hồng (về sau dựng nên chùa Keo - Thái Bình); một phần xuống vùng Xuân Trường dựng chùa Keo (hay còn gọi là chùa Hành Thiện).

Bí ẩn lời nguyền

Trong sân chùa rộng mênh mông và hoang vắng, những mái chùa cong cong, cột, kèo nằm “trơ gan cùng tuế nguyệt”; cửa tam quan đóng im ỉm... Gác chuông hai tầng nằm lặng lẽ. Tất cả dường như đang chìm đắm trong giấc ngủ. Bà cụ bán hương, giấy vàng nơi cổng co rúm lại bên cạnh những cây cột lim đã lên nước. Biết tin có khách đến vãn cảnh chùa, ông Nguyễn Trường Lý từ trong xóm đi ra, từ tốn mở cánh cửa lim nặng nề. Sự im lặng của gỗ lạt, gạch ngói 400 năm được “cách ly” qua cánh cửa, một không gian thiền vỡ òa ào đến trong sự kinh ngạc của tôi. Theo lời ông thủ từ tên Lý, ông là đời thứ 20 được đảm nhiệm “chức vụ” thủ từ trông coi chùa. Những ông thủ từ trước đều đã về thiên cổ. Kể từ ngày chùa có mặt trên doi đất hình con cá chép này, mọi việc trông coi, trùng tu, lễ lạt nhất nhất đều do làng đảm nhiệm. Ngày lễ hội, ban quản lý chùa, đội bảo vệ toàn là những người do làng cắt cử. Ông chủ lễ được chọn phải là người có “tiêu chuẩn” đặc biệt: hai ông bà còn song toàn, được ăn yến lão (thượng thọ), gia đình văn hóa, không có tì vết... Ngay như đội bảo vệ thủ từ cũng phải là những người có “gốc tích”. Riêng thủ từ phải theo kiểu “cha truyền, con nối”. Đời cha truyền đời con, đời sau kế thừa đời trước.

Cũng như những ngôi chùa khác, nghĩa là chùa cũng bao gồm cổng tam quan, cung chùa Phật, đền thánh, đền thờ đức tổ sư... Trước cổng chùa cũng có hai cây đa cổ thụ ngót bốn trăm tuổi soi bóng xuống mặt hồ; hai dãy hành lang gồm bốn mươi gian gỗ lim, mái ngói vảy cá chạy dọc sân chùa lát gạch nghiêng, viên nào viên nấy cũng rắn đanh một màu lửa nung già dặn. ông Lý kể: Bố tôi kế nghiệp của ông nội; ông tôi thừa hành từ cụ cố... Đến đời tôi là đời thứ 7. Tất cả tên tuổi, ngày tháng của những ông thủ từ đều được ghi rõ trong cuốn “Hành Thiện xã chí”... Còn lý giải cho sự lạ của ngôi chùa “kỵ sư” này là huyền thoại truyền miệng trong dân gian. Truyền rằng, khi Thiền sư Không Lộ dựng nên chùa, dân làng nơi đây không mấy mặn mà với khói nhang, tượng phật. Đức Thánh tổ liền giận dữ rời chùa đi nơi khác. Trong một đêm, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, rồi tất cả tượng phật ngài đều cho cả vào đấy. Ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình. Tất cả tượng phật nằm trong rọ tre cũng rẽ nước theo ngài về nơi đất mới. Cũng nội trong đêm ấy, khi dân làng Duy Nhất (huyện Vũ Thư - Thái Bình) tỉnh giấc đã thấy ngôi chùa sừng sững mọc lên. Đức Thánh tổ rời bỏ chùa cũ cùng với lời nguyền: sẽ không có sư nào đến ở đất Hành Thiện. Theo lời nguyền đó, sau này, nhiều lần các vị sư theo sự phân công của Hội Phật giáo về trông coi chùa Hành Thiện, được dăm ba ngày chẳng hiểu vì lý do gì cũng đều khăn gói ra đi. Cũng từ đó, đất Hành Thiện “có tiếng” là đất kỵ sư. Câu chuyện truyền miệng ấy cứ tồn tại theo miệng nhân thế, nó làm cho ngôi chùa càng mang theo những nỗi niềm dã sử.

Giải mã

Về mặt quy mô, chùa Keo Thái Bình bề thế hơn nhiều so với chùa Keo Hành Thiện, thế nhưng về kiến trúc là sự mô phỏng gần như nguyên vẹn. Cả hai ngôi chùa đều được dựng bằng gỗ lim, liên kết với nhau bằng mộng ngậm, đinh tre, mộng vược... Sau gần một ngàn năm Bắc thuộc, từ thế kỷ 10, dân tộc ta giành quyền tự chủ, bước vào kỷ nguyên độc lập, tự chủ cả về chính trị và văn hóa. Thái Bình và Nam Định khi đó được coi là những vùng “kinh tế mới”, gắn với phong trào mở rộng dân cư, khai hoang, lấn đất lập nghiệp. Cùng với việc xây dựng cuộc sống vật chất của họ thì các nhà sư cũng đến đây để xây dựng đền chùa, đảm bảo cuộc sống tâm linh cho các cư dân vùng đất mới. Theo sử sách, vùng đất này có tên gọi là Keo hay vùng đất Giao Thủy, nơi nước sông gặp gỡ với nước sông, nước sông gặp với nước biển tạo nên những vùng hồ nước mênh mông. Trong cái khoáng đạt của tự nhiên như thế, con người phải đối mặt với biết bao thử thách, bao rình rập của tự nhiên, thú dữ. Người ta cần tìm đến những đấng bậc thần linh để được che chở về tinh thần. Đó cũng là lý do để những ngôi đền, chùa mọc lên với cường độ nhiều ở giai đoạn này. Còn căn cứ theo năm xây cất của chùa Keo Hành Thiện và chùa Keo Thái Bình, so sánh với năm sinh, năm mất của Thánh Không lộ Thiền sư có thể thấy được đó chẳng qua chỉ là sự mở rộng phạm vi truyền bá đạo phật của các bậc tăng ni trong dân chúng. Đức Thánh Không Lộ sinh năm 1016, mất năm 1094. Thời gian ngài sống gắn với việc xây cất chùa Keo trên đất Dũng Nhuệ (huyện Giao Thủy); sau này do trận lụt lớn năm 1611, chùa dời về đất Hành Thiện. Hơn 20 năm sau, chùa Keo Thái Bình mới được hoàn thành (năm 1632). Như thế, sự mở rộng về không gian đó chẳng qua là sự mở rộng phạm vi truyền bá của Phật giáo, do những bậc tăng ni hậu thế kế tiếp công việc của Thiền sư Không Lộ. Còn giải thích cho tích “chùa không sư Hành Thiện”, có chăng đó là do những chướng khí hay sự không hợp đất, hợp nước mà sinh ra đau ốm của những vị sư đã có lần đến với chùa rồi sau đó mau chóng ra đi!?

chua-keo-20

Giữa cảnh đất trời khoáng đạt, cái im ắng, tĩnh lặng mang đậm không khí thiền của chùa Keo Hành Thiện càng làm cho du khách hướng tới cõi tâm linh. Dẫu chùa không có các sư, các vãi chăm lo nhang khói, dẫu không khí có lạnh lẽo vì thiếu hơi hướng, bóng dáng con người... song người ta hướng tới phật bằng cõi tâm chứ đâu có câu nệ những cái thuộc về hình thức. Và trong cái điều đã trở thành chân lý “chùa nào mà chẳng có sư”, cái sự lạ “không sư” của chùa Keo Hành Thiện chẳng phải là nét riêng có, nét độc đáo để người ta tìm về mang theo niềm hướng thiện, nhất là về với mảnh đất địa linh, đất học nổi tiếng của vùng đất Xuân Trường.

Theo sách Trùng san Thần Quang Tự Phật tổ bản hành thiền uyển ngữ lục yếu tập, chùa Hành Thiện do thánh Không Lộ Thiền sư (1016 - 1094) xây cất. Thiền sư Không Lộ vốn họ Dương, sinh ra trong một gia đình ngư phủ, xuất gia theo Thiền sư Lôi Hà Trạch. Tương truyền, khi ngài đắc đạo, Thiền sư Không Lộ có khả năng bay trên không, đi trên mặt nước, có tài thuần phục được rắn, hổ. Truyền thuyết còn kể rằng, trước khi viên tịch, ngài hóa thành khúc gỗ trầm hương, lấy áo đắp lên và khúc gỗ biễn thành tượng.

Thánh tượng này nay còn lưu giữ trong hậu cung, quanh năm khóa kín cửa, cứ sau 12 năm, một chủ lễ và 4 viên chấp sự được cử ra để làm lễ trang hoàng tượng thánh. Những người được cắt cử làm nghi lễ tôn nghiêm này phải ăn chay, mặc quần áo mới, sau khi rước thánh tượng từ cấm cung ra mới dùng nước dừa pha tinh bưởi để tắm gội và tô son lại cho tượng thánh. Họ buộc phải giữ bí mật những điều đã thấy khi trang hoàng tượng thánh. Điều đó càng tạo nên lớp sương bí ẩn bao bọc quanh ngôi chùa nhiều huyền thoại.


Nguồn Diễn đàn Doanh nghiệp

read more “Không chỉ có một chùa Keo”

Chùa Keo Hành Thiện

Chùa Keo Hành Thiện là một trong những di tích và danh thắng nổi tiếng. Quy mô và nghệ thuật kiến trúc mang đậm phong cách thời Hậu Lê cách đây gần 400 năm. Ngoài việc thờ Phật, chùa còn thờ Dương Không Lộ, một nhà thơ thời Lý - Trần, một nhà thơ có học vấn sâu sắc về Phật học, là biểu tượng của con người sáng tạo văn hoá.

dscf00191

Trước tam quan chùa là hồ bán nguyệt bốn mùa nước trong xanh

Chùa Keo Thượng nằm ở làng Dũng Nhuệ (nay xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình), phía tả ngạn sông Hồng, còn chùa Keo Hạ nằm ở làng Hành Cung. Miền đất hai bên dòng sông Hồng thuộc hai tỉnh Nam Định và Thái Bình có sự song trùng lịch sử khá thú vị: Ở mỗi bên đều có một ngôi chùa cổ, tạo dựng cùng thời, tên nôm đều gọi là chùa Keo, tên chữ đều gọi là "Thần Quang", cùng thời đức thánh hiền sư Không Lộ thời Lý.

Tuy quy mô và vị trí của hai ngôi chùa có sự khác nhau nhưng đều bắt nguồn từ thượng lưu sông Hồng, vùng Quán Các (nay thuộc miền đất xã Nam Hồng, huyện Nam Ninh, tỉnh Hà Nam). Để phân biệt với chùa Keo làng Dũng Nhuệ (Thái Bình), nhân dân ở đây thường gọi ngôi chùa làng mình là chùa Keo Hành Thiện. Cái tên chùa Keo Hành Thiện đã mãi mãi ghi đậm trong trí nhớ của nhân dân cả nước.

Phía trước chùa có hồ bán nguyệt nước trong xanh, soi bóng tháp chuông mái cong uy nghiêm, thơ mộng. Từ đây nhìn vào, chúng ta sẽ thấy trước mắt là cả một khu kiến trúc cổ to lớn, bề thế với 13 toà rộng gồm 121 gian nối tiếp nhau soi bóng xuống mặt hồ lung linh huyền diệu.

keoht

Một góc chùa

Gác chuông trước cửa chùa là hình ảnh kết hợp hài hoà của kiến trúc tam quan nội 5 gian, làm theo kiểu chồng diêm, cao 7m50. Dáng vẻ thanh thoát với mái cong, bờ cánh kẻ bảy uốn lượn. Phía dưới là 8 đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn cánh hoa sen nở.

Đứng ở hai cửa tả, hữu của tam quan nhìn vào, khách tham quan vãn cảnh sẽ thấy toàn cảnh kiến trúc của chùa Keo Hành Thiện. Hai bên đường kiệu lát gạch, kề liền hai dãy hành lang, mỗi dãy gồm 40 gian bề thế.

Ngoài vẻ đẹp về kiến trúc, trong chùa còn lưu giữ, bảo tồn những di vật cổ có giá trị của thế kỷ 17 thời Hậu Lê. Đó là những án thư, sập thờ, tượng pháp nhiều chuông khánh, văn bia cổ, hoàng văn phi đối và sách chữ Hán nói về chùa Keo. Sau chùa là đền Thán thờ Đức Thánh Tổ thờ đại pháp thiền sư Không Lộ, người chữa khỏi bệnh cho vua Lý Nhân Tông.

Kể từ ngày khởi dựng, chùa Keo Hành Thiện đã được tu sửa nhiều lần vào những năm Hoằng Định thứ 13 (1612), Cảnh Trị thứ 9 (1671), Chính Hoà thứ 25 (1704), Thành Thái thứ 7 (1896) và đặc biệt từ năm 1962 chùa Keo đã được nhà nước công nhận là tích lịch sử văn hoá, nên đã được tôn tạo nhiều lần.


Theo SimpleVietnam
read more “Chùa Keo Hành Thiện”

Thư chúc Tết Kỷ Sửu

BAN LIÊN LẠC
HỘI ĐỒNG HƯƠNG LÀNG HÀNH THIỆN

THƯ CHÚC TẾT KỶ SỬU!

Hành Thiện, ngày mùng 2 tháng Giêng năm Kỷ Sửu

Kính gửi quý bà con cô bác Hành Thiện đang sinh sống, công tác trong nước cũng như nước ngoài. Nhân dịp xuân mới, thay mặt Ban liên lạc Đồng hương, Ban quản lý di tích chùa Keo Làng Hành Thiện và nhân dân tại quê nhà xin kính chúc bà con cô bác An Khang Thịnh Vượng, Thành đạt và May mắn trong cuộc sống.

Kính thưa quý vị; nhân dịp đầu xuân, Ban vận động xây dựng miếu, giếng mắt cá làng Hành Thiện xin được cảm ơn và thông báo sơ bộ tới bà con cô bác kết quả xây dựng miếu cùng lòng hảo tâm công đức của bà con cô bác trong thời gian vừa qua:
Từ khi khởi công mùng 1 tháng 9 năm Mậu Tý ở giai đoạn 1 (phần nền móng, thân miếu) chúng ta đã quyết tâm xây dựng và hoàn thành với giá trị 430 triệu đồng. Trong thời gian triển khai xây dựng, chúng tôi đã nhận được sự công đức ủng hộ của bà con trong và ngoài nước bằng tiền mặt, hiện vật quy giá trị là 125 triệu đồng; đồng thời trích từ quỹ chùa làng là 200 triệu đồng để chi trả giai đoạn 1. Đầu xuân Kỷ Sửu chúng tôi tiếp tục triển khai giai đoạn 2 (phần mộc, mái) với giá trị khoảng 800 triệu đồng. Chúng tôi mong bà con ta hãy cùng nhau chung sức chung lòng hoàn thành công trình trong năm Kỷ Sửu và khánh thành vào dịp Trương Yến làng Hành Thiện..

Kính thưa quý cụ, quý ông, quý bà: việc xây dựng, khôi phục, bảo vệ di tích lịch sử của làng cho muôn đời sau là tâm tư nguyện vọng của người dân Hành Thiện, thể hiện tình cảm, tâm linh của bà con luôn hướng về cội nguồn.

Thay mặt ban liên lạc đồng hương, ban quản lý di tích chùa Keo Hành Thiện xin được cảm ơn và ghi nhận tấm lòng công đức của quý ông bà, cô bác trong thời gian qua. Chúng tôi cũng mong nhận được sự quan tâm từ tấm lòng hảo tâm công đức của bà con quê hương Hành Thiện đang sinh sống trong và ngoài nước để công trình sớm hoàn thành đưa vào chiêm bái trong quần thể di tích lịch sử truyền thống của quê hương

Một lần nữa xin được cảm ơn, kính chúc quý cụ, quý ông bà, cô bác và toàn thể quý vị một năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc, vạn sự như ý.

T/M BLL Đồng hương, BQL di tích làng Hành Thiện
Trưởng ban
Phạm Viết Trung (đã ký)

nam-dinh-2009-348

Miếu chợ đã hoàn thành giai đoạn 1

nam-dinh-2009-355

Phía trong Miếu chợ

nam-dinh-2009-354

Nhìn từ phía trong Miếu ra ngã ba sông con

nam-dinh-2009-361

Một ngôi miếu thờ thần bằng gỗ lợp ngói ở cuối làng, bên cạnh chợ (tức vị trí đầu cá) trông ra ngã ba sông con, thờ ba vị thượng đẳng thần: Đế Thích Thiên Chúa, Đông Hải Đại Vương, Nam Hải Đại Vương.

Xét trong bi ký cụ Tuần phủ Đặng Xuân Bảng viết năm Tự Đức thứ 28 (1872) thì trước kia làng ta, ba giáp phụng sự ba Thần, giáp Đông phụng sự Đức Đế Thích, giáp Nam phụng sự Đức Đông Hải, giáp Bắc phụng sự Đức Nam Hải. Ba giáp đều có miếu thờ riêng, miếu thờ Đức Đế Thích và Đức Đông Hải ở phía nam làng, miếu thờ Đức Nam Hải ở phía bắc làng, đều lợp rạ và thấp hẹp, cứ 3 năm ba giáp một lần xuân tế thì rước cả 3 vị thần hội đồng 1 nơi kinh tế. Đến năm Kỷ Tỵ niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869) mới làm ngôi miếu này hợp tự cả 3 vị Thần.

Miếu làm tại nền miếu cũ thờ Đức Đế thích và Đức Đông hải ở nội cung, chính giữa là Thần vị Đức Đế thích, hai bên là thần vị đức Đông Hải và Đức Nam Hải. Hai bên cạnh bàn thờ thần lại có bàn thờ các vị Tiên đạt trong làng

(Theo Hành Thiện Xã Chí - Đặng Xuân Viện 1933)

read more “Thư chúc Tết Kỷ Sửu”

Đền Chùa Nam Định - Thái Bình (2 days)

Ngày 1: Hà Nội - Chùa Đậu - Phủ Giầy - Chùa Phổ Minh - đền thờ nhà Trần (Nam Định) - Thái Bình - Đồng Châu
Ngày 2: Chùa Keo Thái Bình - Chùa Keo Hành Thiện (Nam Định) - Chùa Cổ Lễ - Hà Nội

Thư thả và thoải mái? Chuyến đi điểm danh qua nhiều đền - chùa phù hợp với những kẻ thích tìm chốn thanh tịnh. Những kẻ ngẫu hứng tìm đường ra biển khi con nước xuống. Lỡ hẹn với sóng biển, cũng kịp bù lại = 2 lần qua đò

Note:

1. Nên khởi hành vào đầu xuân để kịp tham dự phiên chợ Viềng (gần Phủ Giày - Nam Định) đêm 7 Tết. Mang nhiều tiền lẻ để đặt các ban cho dù bạn có đi vãn cảnh.

2. Tránh ngày nước ròng, Đồng Châu là khu vực cửa sông nên k thể tắm vào ngày con nước xuống, những ngày đó dù có đi về phía biển cả km cũng tịnh k thấy chút sóng nào, miên man 1 vùng toàn bùn cát với những người đi nhặt con ngón tay. Đồ hải sản ở đó cũng khá đắt.
3. Nhà nghỉ Công đoàn khá lắt léo nếu đi tìm trong đêm khuya, rate: 120k/room 2 1.2m-beds. air co. - hot water - TV - fridge. No restaurant. Chuẩn bị đồ ăn khô hoặc tinh thần nhịn đói. View khá ổn nếu biển có nước.
4. Thái Bình nổi tiếng với ổi Bo, bánh Cáy. Nam Định có kẹo Sìu Châu, bánh gai bà Thi - trước cổng bến xe.
5. Giá đò/ xà-lan nhỏ/ ghe máy: 5-10k/xe 1 người; 5-10k/ người
6. Kiến trúc chùa Cổ Lễ khá đặc biệt, có nét nào đó tương đồng với kiến trúc của 1 số nhà thờ Thiên Chúa: Mái vòm cao và lối đi như hành lang 2 bên hông chùa...

Theo blogger Jenny

read more “Đền Chùa Nam Định - Thái Bình (2 days)”

Bàn thêm về câu ngạn ngữ: “Đông- Cổ Am- Nam, Hành Thiện”

Báo Hải Phòng cuối tuần số 53 và số 54 tháng 1-2008 có bài “Cổ tích mới về Đông Cổ Am- Nam Hành Thiện” của Lê Việt Thắng. Theo tác giả “Thời Nho học, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) và làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường (Nam Định) sáng danh là làng khoa bảng “Đệ nhất đất Việt” về số người đỗ đạt cao trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Đất học Cổ Am và Hành Thiện cũng là nơi giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Trong mạch chảy truyền thống, Cổ Am, Hành Thiện hôm nay thêm nhiều sự tích mới”...

article17702

Một góc làng Cổ Am (Vĩnh Bảo)

Tôi nhất trí với tác giả viết về truyền thống yêu nước, cách mạng của Cổ Am và Hành Thiện cũng như dân hai làng này đã kế thừa, phát huy truyền thống học hành của tổ tiên. Còn về Cổ Am Hành Thiện “sáng danh là làng khoa bảng” Đệ nhất đất Việt” về số người đỗ đạt cao trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình thứ 2 khác xa sự thực trong lịch sử thi cử Nho học nước ta.

Theo các sách Đăng khoa lục ghi chép về các khoa thi cũng như bia- đề tên tiến sĩ ở Văn miếu Thăng Long, ở Văn Thánh (Huế), chắc chắn danh hiệu “Đệ nhất đất Việt” về người đỗ đại khoa Nha học không phải Cổ Am và Hành Thiện. Bởi vì, xã Cổ Am xưa chỉ có 3 vị, gồm 2 vị đậu đệ tam giáp đồng tiến sĩ là Trần Lương Bật (khoa Giáp Thìn (1684) Cảnh Trị thứ hai triều Lê Huyền Tông) và Trần Công Hân (khoa Quý Sửu (1733), Long Đức thứ hai triều Lê Thần Tông) và 1 vị đậu Phó bảng: Lê Huy Thái (khoa Mậu Thân (1848) triều Nguyễn Tự Đức).

Còn làng Hành Thiện xứ Nam trước đời Nguyễn chưa có ai đậu khoa. Đến đời Nguyễn mới có 7 vị, gồm 3 đệ tam giáp đồng tiến sĩ là: Đặng Xuân Bảng (Khoa Bính Thìn (1856) Tự Đức thứ 9), Đặng Hữu Dương và Nguyễn Ngọc Liên (Khoa Kỷ Sửu (1889) Thành Thái thứ nhất. Và 4 Phó bảng là: Đặng Đức Địch (khoa Kỷ Dậu (1849) Tự Đức thứ hai; Đặng Kim Toán (khoa Mậu Thân (1849); Nguyễn Âu Chuyên (khoa Giáp Thân (1884) Kiến Phúc thứ nhất); Phạm Ngọc Thuỵ (khoa Tân Sửu (1901) Thành Thái 12). Nếu đem so sánh với những làng xã của địa bàn Hải Phòng ngày nay như xã Tú Sơn (Kiến Thuỵ) vào thời Lê-Mạc- Lê Trung Hưng có 9 vị đậu đại khoa, gồm 3 vị đậu đệ nhị giáp (tức hoàng giáp) như: Bùi Phổ (khoa Đinh Mùi (1487) Hồng Đức 18- đời Lê Thánh Tông) được dự Hội Tao đàn; Lê Thời Bật (khoa Giáp Tuất (1514) Hồng Thuận 6 đời Lê Tương Dực); Bùi Đình Dự, giải nguyên, đình nguyên (khoa Đinh Sửu (1757) Cảnh Hưng 18) . Trong số 9 vị đại khoa của Tú Sơn, riêng thôn Lê Xá có 7 vị. Ở đây chỉ so sánh trong phạm vi hẹp. Còn với huyện Đông Ngàn sứ Bắc, Mộ Trạch xứ đông; nhiều làng xứ Nam, xứ Đoài không hiếm những dòng họ kế thế đăng khoa, có làng đủ cả ba giáp tiến sĩ. Đến đời Lê Trung Hưng, đời Nguyên, xứ Thanh Nghệ, xứ Huế, xứ Quảng... cùng vậy.

Bàn về các vị danh nho Hành Thiện khi làm quan “luôn giữ khí tiết được dân kính trọng, tác giả bài báo có nhắc đến Tuần phủ tỉnh Thái Bình Nguyễn Duy Hàn thì phải xem lại . Vì cử nhân Nguyễn Duy Hàn khi làm quan ở tỉnh Thái Bình bị Việt Nam Quang phục Hội xếp vào loại tay sai đắc lực cho thực dân Pháp- nên quyết định xử tử năm 1913. Khi ông bị xử tử, sĩ phu Bắc Hà có những câu đối viếng phê phán như:

Hành Thiện bản lai vô ác báo
Thái Bình thuỳ thức hữu phong ba.


Dịch nghĩa

Làm thiện xưa nay không ác báo
Thái Bình sao lại nổi phong ba.

(Tác giả chơi chữ: Hành Thiện còn là quê và Thái Bình là nơi làm quan).

Về chuyện cũ của hai làng văn hiến Đông Cổ Am- Nam Hành Thiện có đôi điều phải bàn như trên. Về phần sau, tôi hoàn toàn nhất trí với Lê Nam Thắng; đặc biệt vấn đề kế thừa phát huy truyền thống hiếu học, khuyến học, khuyến tài, giữ gìn nếp sống văn hoá dân tộc, truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân hai làng này, thật đáng biểu dương, tổng kết và học hỏi làm theo.

Vậy, nếu tôi không lầm thì câu ngạn ngữ trên vốn là: “Đông, Cổ Am- Nam, Hành Thiện thế ngôn chi đa sĩ”. Nghĩa là “Làng Cổ Am xứ Đông, làng Hành Thiện xứ Nam đời truyền có nhiều người làm quan.

Ngô Đăng Lợi
(Hội Sử học Hải Phòng)

Nguồn báo Hải Phòng

read more “Bàn thêm về câu ngạn ngữ: “Đông- Cổ Am- Nam, Hành Thiện””