Thư của Hội khuyến học làng Hành Thiện

Học sinh trường Tiểu học Xuân Hồng A
vào thăm Nhà lưu niệm Cố TBT Trường Chinh


THƯ CỦA HỘI KHUYẾN HỌC LÀNG HÀNH THIỆN

XÃ XUÂN HỒNG HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH

Hành Thiện ngày 05/ 09/ 2009

Kính thưa các cụ, các ông, các bà, các bác, các anh, các chị hiện đang sinh sống ở Hành Thiện và các quý vị đồng hương khắp mọi miền trong và ngoài nước!

Hành Thiện quê hương ta xưa nay cả nước biết đến: là làng văn hiến và Cách mạng, địa linh nhân kiệt trên cơ sở một làng học truyền thống, cái nôi của nhiều nhân tài chính khách. Thời nho học, các bậc tiền bối đã lưu lại danh sách các vị là danh nhân hiền tài của Hành Thiện. Còn từ năm 1945 đến nay thì các cụ trao lại cho thế hệ chúng ta: “Chúng tôi dành lại cho thế hệ mai sau công việc kiểm kê và lập danh sách các vị quán xã Hành Thiện học thành tài từ khi nước Việt Nam giành được chủ quyền” ( Trích nguyên văn di bút của cụ Đặng Xuân Bảng, cụ Đặng Trần Thường trong quyển Hành Thiện xã chí xuất bản năm 1974).

Để thực hiện tâm nguyện của các bậc tiền bối đã dày công xây dựng Hành Thiện một thời vàng son về sự học, để minh chứng cho truyền thống hiếu học của quê ta như một dòng chảy không ngừng, kế thừa và phát triển qua các thế hệ, thăng trầm theo vận nước nhưng không đứt đoạn, thời nào cũng ươm trồng được những người con ưu tú cho làng cho nước và đồng thời cũng góp phần rèn dạy cho thế hệ tương lai tiếp nối sự nghiệp của ông cha chúng ta, hội khuyến học làng Hành Thiện được sự đồng ý, động viên của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Xuân Hồng, chúng tôi mong muốn được sự hưởng ứng và cộng tác của quý vị để kê khai lập danh sách các vị là con trai, con gái, con dâu của người bố, ông, cụ gốc quê ở Hành Thiện có bằng cấp từ thạc sỹ, tiến sỹ, tiến sỹ khoa học, các hàm phó giáo sư, giáo sư hoặc các bằng cấp tương đương thuộc mọi hệ đào tạo trong mọi giai đoạn lịch sử ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Khi có danh sách đầy đủ, chính xác sẽ ghi danh các vị vào bia đá đặt ở đình làng xóm 8 Hành Thiện để lưu giữ lại cho muôn đời sau. Cũng xin ý kiến của quý vị về nôị dung ghi trong bia đá cả thời nho học và tân học từ 1945 đến nay.

Chúng tôi trân trọng mong muốn được tiếp kiến quý vị khi về thăm quê hoặc qua các phương tiện thông tin với các địa chỉ liên hệ.

- Nguyễn Đăng Hùng xóm 5 – Hành Thiện- Xuân Hồng- Xuân Trường- Nam Định. Điện thoại: 03503755019 hoặc 0437500791
Email: nguyendangdanh@gmail.com

- Nguyễn Chi xóm 10 Hành Thiện Xuân Hồng- Xuân Trường- Nam Định
Điện thoại: 03503886803 hoặc 0437821251

- Phạm Ngọc Hoà xóm 5 Hành Thiện Xuân Hồng- Xuân Trường- Nam Định.
Điện thoại 03503886097

Xin trân trọng cảm ơn quý vị ! Chúc quý vị thành đạt và hạnh phúc. Chúc cho Hành Thiện quê ta có nhiều người con hiền tài, nhiều gia đình, nhiều dòng họ giàu về chữ, giàu tiền của và giàu lòng nhân nghĩa hiếu thảo góp phần xây dựng quê hương ta ngày thêm rạng rỡ.

TM/ hội khuyến học

Nguyễn Đăng Hùng
read more “Thư của Hội khuyến học làng Hành Thiện”

Vinh danh các cán bộ tri thức thời Tân học từ 1945 - 2009

Theo chia sẻ của ông Nguyễn Đăng Hùng, Chi hội trưởng Chi hội khuyến học của làng Hành Thiện trên blog Làng Hành Thiện về dự định lập "Bia đá" để vinh danh những người con của Làng Hành Thiện từ năm 1945 đến nay ( Học hàm – Học Vị từ PGS , PTS ) để con cháu sau này phấn đấu làm rạng danh đất học, ông có gửi cho tôi danh sách một số tên tuổi của các nhà tri thức mà ông đã thu thập được với mong muốn được sự bổ sung , chỉnh sửa của mọi người.

Mong các anh chị, bà con giúp đỡ để tâm nguyện của ông được hoàn thành. Ông là người thầy giáo đã dậy dỗ, dìu dắt tôi và rất nhiều bạn bè đồng trang lứa của tôi.

CÁN BỘ TRI THỨC CAO CẤP VÀ VINH DANH CAO QUÝ
THỜI TÂN HỌC TỪ 1945 – 2009

Số/ Họ tên/ Năm sinh/ Giong/ Trú quán

1. Đặng Đức An/ 1931/ Giong 5/ Giáo sư sử học./ Nhà giáo ưu tú Đại học SP Hà Nội
2. Đỗ Năng An/ Tiến sĩ luật./ Nguyên luật sư toà thượng thẩm Sài Gòn
3. Đặng Nguyên Anh/ Tiến sĩ viện khoa học xã hội nhân văn Quốc Gia
4. Đặng Vũ Phương Anh/ Giong 9/ Tiến sĩ Y khoa. GS trường ĐH Virginia, Hoa Kỳ
5. Đỗ Thuý Anh/ Cao học quản trị bệnh viện Hoa Kỳ
6. Nguyễn Tú Anh/ 1965/ Giong 5/ TS điện tử. PGĐ trung tâm công nghệ Hà Nội
7. Trần Thị Kiều Anh/ 1966/ Giong 5/ Thạc sĩ kinh tế. Hà Nội
8. Phạm Mạnh Ái/ Cao học luật Hoa Kỳ
9. Đặng Kim Ái/ 1952/ Giong 4/ Tổng giám đốc Tầu Quốc 2 TPHCM
10. Đặng Hồng Ánh/ Tiến sĩ hóa thực phẩm Hà Nội
11. Đặng Hồng Ân/ 1950/ Giong 4/ Phó tổng giám đốc công ty xây dựng công trình Hà Nội
12. Đặng Quốc Ân/ TS sinh hóa thực phẩm Hà Nội
13. Đặng Quốc Bảo/ 1927/ Nguyên ủy viên BCH TW ĐCS Việt Nam
14. Nguyễn Xuân Bảo/ GS/TS trưởng ban khoa giáo TW Đảng. HT ĐH Thủy Lợi
15. Đặng Việt Bắc/ 1948/ Giong 7/ TS vật lí. Giám đốc xí nghiệp may mặc TPHCM
16. Đặng Việt Bích/ 1967/ Giong 5/ PGS/TS. Nguyên hiệu trưởng trường viết văn Nguyễn Du
17. Đặng Vũ Biền/ Giong 9/ TS vật lí. GS trường ĐH dược khoa Royal Paris, Pháp
18. Phạm Hòa Bình/ 1954/ Giong 9 PGS/TSY khoa. Thầy thuốc ưu tú
19. Đặng Thế Căn/ Giong 4/ Thầy thuốc ưu tú. Quyền giám đốc bệnh viện K Hà Nội
20. Phạm Văn Cáp/ Thiếu tướng Bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam
21. Nguyến Phong Châu/ TS toán. GS Đại học Paris. Pháp
22. Đặng Vũ Thị Kim Chi/ TS hóa. Chủ nhiệm khoa hóa trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
23. Nguyễn Thị Kim Chi/ Cao học Hoa Kỳ
24. Đặng Thị Kim Chi/ 1949/ Giong 10 PGS/TS.Viện trưởng viện CN & MT. Giải thưởng Kovalepskaia 2008
25. Nguyễn Quỳnh Chi/ 1981/ Giong 11/ Thạc sĩ Kinh tế. Ngân hàng Việt Thái Hà Nội
26. Đặng Thị Vân Chi/ 1959/ TS sử. ĐH KHXH & NV Hà Nội
27. Đặng Ngọc Chiến/ 1946/ Giong 5/ TS. Phó chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam
28. Nguyễn Đình Chiến/ 1954/ Giong 10/ TS khoa học. Thiếu tướng QĐND Việt Nam
29. Nguyễn Thị Chính/ TS sinh học. Giảng Viên trường ĐH KHTN, ĐH Quốc Gia Hà Nội
30. Đặng Vũ Chư/ 1940/ Giong 9/ TS điện. Ủy viên BCH TW ĐCS Việt Nam. Bộ Trưởng Bộ CN
31. Đặng Xuân Cự/ Giong 7/ TS vật lí. Viện trưởng viện CN Bộ khoa học CN & MT
32. Đặng Thị Kim Cương/ TS. Nguyên phó trưởng khoa trường ĐH Kinh tế TPHCM
33. Nguyễn Viết Cường/ 1968/ Thạc sĩ luật/ Hà Nội
34. Đặng Ngọc Cường/ 1964/ Giong 8/ Phó chủ tịch UBND huyện Xuân Trường
35. Đặng Quốc Cường/ 1976/ Giong 5/ Tiến sỹ học viện KAIS- Hàn Quốc
36. Đỗ Thị Bich Diệp/ 1978/ Thạc sĩ/ Hà Nội
37. Nguyễn Thị Ngọc Diệp/ Cao học. Hoa Kỳ
38. Nguyễn Khánh Do/ Cao học toán. Trung tâm y khoa Houston Hoa Kỳ
39. Trương Thị Mỹ Dung/ TS sinh học trường ĐH Sư phạm Hà Nội
40. Đặng Đức Dũng/ PGS/TS. Nhà giáo ưu tú. Nguyên Giảng viên ĐH Thương Mại
41. Đặng Việt Dũng/ Thạc sĩ kinh tế
42. Trương Việt Dũng/ Tiến sĩ y học. Vụ trưởng vụ KH & DDT, Bộ y tế
43. Nguyễn Việt Dụng/ 1975/ Giong 5/ Thạc sĩ Viễn thông liên tỉnh Hà Nội
44. Bernadette Đại GS/ thạc sĩ y khoa. Paris. Pháp
45. Đặng Thế Đại/ TS. Chuyên viên viện Tôn giáo thuộc trung tâm KHXH & NV
46. Nguyễn Thế Đại/ Cao học Y khoa. Pháp
47. Đặng Đức Đạm/ TS kinh tế. Phó ban nghiên cứu Kinh tế của Chính Phủ
48. Nguyễn Văn Đào/ TS kinh tế
49. Nguyễn Bích Đạt/ 1950/ Giong 10/ PGS/TS khoa học. Thứ trưởng Bộ KH &
50. Nguyễn Hữu Đẩu/ 1947/ Giong 10/ PGS/TS. Viện kỹ thuật, Bộ Giao Thông Vận Tải. Hà Nội
51. Nguyễn Văn Đậu/ 1939/ Nội Khu/ Tiến sĩ kinh tế
52. Đặng Xuân Đĩnh/ 1919/ Giong 7/ Nhà giáo nhân dân. Nguyên hiệu trưởng trường ĐH Mỏ Địa Chất
53. Đặng Kim Giang/ TS kinh tế. Giảng viên ĐH Kinh tế TPHCM
54. Đặng Vũ Giang/ Giong 11/ TS toán. Viện toán học Việt Nam
55. Đặng Thị Thiềm/ 1921/ Nguyên phó hội trưởng hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

56. Nguyễn Xuân Giang/ PGS/TS. Nhà giáo ưu tú. Trung tâm KHXH & NV
57. Đặng Thị Lan Giao/ Cao học luật Hoa Kỳ
58. Đặng Ngọc Hạ/ 1964/ Giong 4 Tiến sĩ nông nghiệp
59. Đặng Xuân Hải/ Đại tá QĐND Việt Nam. Phó chủ tịch hội Điện ảnh Việt Nam
60. Phạm Nguyễn Hồ Hải/ 1968/ Giong 5/ Tiến sĩ nông học. TPHCM
61. Nguyễn Thị Tuyết Hạnh/ Cao học điện. Hoa Kỳ
62. Đặng Xuân Hảo/ TS hóa. Trung tâm KH & CN Quốc gia, Hà Nội
63. Phạm Duy Hậu 1959 Giong 5 Đại tá, GĐ nhà máy Quốc Phòng A29 TPHCM
64. Đặng Đức Hiền/ 1940/ Họa sĩ, nghệ sĩ ưu tú. Đạo diễn hãng phim hoạt hình, Bộ VHTT
65. Phạm Nguyễn Hiền/ 1978/ Giong 5 Thạc sĩ Y khoa. TPHCM
66. Đặng Đức Hiển/ 1939/ Cử nhân SP. Nhà giáo ưu tú. PHT trường THPT Nguyễn Huệ
67. Nguyễn Thế Hiển/ Cao học Hoa Kỳ
68. Nguyễn Thế Hiệp/ TS kinh tế. GS trường ĐH Laval Canađa, ĐH Stanfornia Hoa Kỳ
69. Đỗ Khắc Hiếu/ 1941/ Giong 7/ PGS/TS sinh học. Trung tâm KH & CN Quốc gia
70. Nguyễn Văn Hiếu/ PGS/TS. Trung tâm KH & CN Quốc gia
71. Nguyễn Diệu Hoa/ 1969/ Giong 10/ Thạc sĩ. Hoa hậu Việt Nam năm 1990
72. Đặng Xuân Hoài/ PGS/TS tâm lý học. Trung tâm Khoa Học Giáo Dục Việt Nam
73. Nguyễn Quang Hoàng/ Cao học./ Hoa Kỳ
74. Đặng Minh Hồng/ 1955/ Nội Khu Thạc sĩ mỏ./ Vũng Tàu
75. Đặng Thị Hợp/ TS công ty khảo sát thiết kế, Bộ năng lượng
76. Đặng Vũ Huân/ 1961/ Giong 7/ TS luật. Báo Pháp luật/ Hà Nội
77. Đặng Viết Hùng/ 1948/ Nội Khu/ Thạc sĩ mỏ./ Hà Nội
78. Đặng Vũ Hùng/ 1972/ Tiến sĩ công nghiệp
79. Nguyễn Hùng/ TS. Giảng viên trường ĐH Mỏ Địa Chất Hà Nội
80. Đặng Thế Huy/ TS. Giảng viên trường ĐH Nông Nghiệp I Hà Nội
81. Phạm Nguyễn Anh Huy/ 1975/ Giong 5/ Tiến sĩ Công nghệ Thông tin. Hoa Kỳ
82. Bùi Thanh Huyền/ 1960/ Giong 9/ Thạc sĩ Du lịch
83. Đặng Vũ Huyến/ TS toán. Giảng viên trường ĐH Paris./ Pháp
84. Đỗ Quang Hưng/ 1959/ Thạc sĩ. Đại tá QĐND Việt Nam. Học viện Phòng Không Không Quân

85. Hoàng Thị Thanh Hương/ 1970/ Giong 9/ Thạc sĩ hóa./ Hà Nội
86. Đặng Thị Thu Hường/ 1982/ Giong 4/ Thạc sĩ toán Sư phạm Hà Nội
87. Đinh Văn Kha 1960/ Giong 9/ Thạc sĩ hóa./ Hà Nội
88. Phạm Ngọc Khai/ Cao học điện toán. Phó giám đốc ngân hàng
89. Nguyễn Tuấn Khải/ 1952/ Giong 10/ Thạc sĩ. Đại tá QĐND Việt Nam. Học viện Phòng Không Không Quân
90. Đặng Vũ Cảnh Khanh/ GS/TS Xã hội học. Nguyên Viện trưởng viên nghiên cứu Thanh niên Việt Nam
91. Nguyễn Văn Khanh/ Tiến sĩ sinh vật
92. Đặng Bảo Khánh/ Thạc sĩ. Viện khoa học xã hội Việt Nam
93. Đinh Nguyên Khiêm/ 1948/ Giong 7/ Tiến sĩ ngữ văn. Phó Đại Sứ Quán Việt Nam tại Vương Quốc Bỉ
94. Phạm Nguyễn Khiêm/ Giong 5/ Cao học cơ khí. Hãng Boeing Seatle WA Hoa Kỳ
95. Phạm Nguyễn Khiêm B/ 1970/ Giong 5 Tiến sĩ Y học./ Hoa Kỳ
96. Đặng Vũ Khiêu/ 1916/ Giong 9/ Giáo sư. Nguyên phó chủ nhiệm ủy ban khoa học xã hội Việt Nam. AHLĐ
97. Bùi Duy Tâm Khoa/ TS khoa học ngành Y. Trưởng khoa trường ĐH Y khoa Huế
98. Đặng Đức Khôi/ Thạc sĩ luật/ Hoa Kỳ
99. Nguyễn Văn Khuê/ 1959/ X.Trung Tiến sĩ TPHCM
100. Phạm Ngọc Khuyến/ Cao học công pháp. Tổng giám đốc Sài Gòn ngân hàng
101. Đặng Vũ Tuấn Kiệt/ Tiến sĩ tin học
102. Nguyễn Nhược Kim/ 1957/ Giong 10/ PGS/TS y học. Trưởng khoa Y học dân tộc trường ĐH Y Hà Nội
103. Phạm Thùy Kim/ Cao học giáo dục. GS đại học/ Hoa Kỳ
104. Nguyễn Đăng Kính/ Thiếu tướng QĐND. Nguyên viện trưởng VKS Quân sự Bộ Quốc Phòng
105. Đặng Vũ Kính PGS/TS. Trường ĐH Nông nghiệp TPHCM
106. Lã Văn Kính/ 1959/ Giong 3/ PGS/TS. Viện Kỹ Thuật Nông Nghiệp TPHCM
107. Đặng Xuân Kỳ/ 1931/ Giong 7/ GS. Ủy viên BCH TW DDCSVN. Viện trưởng viện KHXH&NV
108. Phạm Hồng Kỳ/ 1962/ Giong 5/ Thạc sĩ viễn thông. Kỹ Thuật Hàng Không/ Hà Nội
109. Nguyễn Lai/ GS/TS Ngữ văn. Nguyên giảng viên trường ĐH Tổng Hợp Hà Nội
110. Đặng Hoàng Lan/ 1952/ Giong 6/ TS ngôn ngữ học. Đại sứ quán Việt Nam tại Cộng Hòa Séc

111. Nguyễn Hương Lan /Cao học điện toán Hoa Kỳ
112. Đặng Thị Lanh/ Giong 7/ PGS/TS ngữ văn. Nguyên phó Vụ trưởng vụ GDTH, Bộ GD&ĐT
113. Đặng Văn Lân/ Cao học
114. Đặng Quốc Lập/ TS nông học. Ban Nông nghiệp/ Hà Nội
115. Đặng Thị Bích Liên/ 1975/ Giong 7/ Thạc sĩ vật lí. Viện vật lí Trung Ương
116. Nguyễn Đức Long/ Giong 8/ TS Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam
117. Đỗ Xuân Lôi/ 1934/ PGS/TS. Nhà giáo ưu tú. Chủ nhiệm khoa tin trường ĐH Bách Khoa
118. Nguyễn Viết Lợi/ 1960/ Giong 7/ TS kinh tế. Viện phó viện tài chính Hà Nội
119. Nguyễn Văn Lợi/ Giong 7/ GS/TS ngôn ngữ. Nguyên phó viện trưởng viện ngôn ngữ viện KHXH&NV
120. Đặng Vũ Lương/ 1966/ Giong 7/ Thạc sĩ hóa học. Viện hóa học Hà Nội
121. Phạm Mạnh Lương/ TS, Đại tá QĐND Việt Nam. Viện kỹ thuật Quân sự
122. Bùi Trọng Lưu/ TS vật lí./ Paris. Pháp
123. Đặng Ngọc Lựu/ 1968/ Giong 4/ Thạc sĩ triết học
124. Đặng Thị Mai/ 1970/ Giong 6/ Thạc sĩ triết học
125. Nguyễn Thị Mai/ 1950/ Giong 10/ Thạc sĩ Văn Hóa. Hà Nội
126. Nguyễn Thị Hồng Mai/ 1949/ Giong 10/ Nhà giáo ưu tú. Giảng viên trường ĐH Văn Hóa Hà Nội
127. Nguyễn Thị Thanh Mai/ 1960/ Giong 5/ Thạc sĩ sinh học
128. Nguyễn Thị Tuyết Mai/ 1961/ Giong 5/ Thạc sĩ ngôn ngữ học
129. Đinh Thị Tuyết Mai/ 1951/ Giong 4/ TS hóa./ Cộng hòa Liên Bang Đức
130. Phạm Tư Mạnh/ Giáo sư/ Pháp
131. Trần Hữu Mạnh/ GS/TS trường ĐH Ngoại ngữ Hà Nội
132. Đặng Vũ Hồng Miên/ Giong 10/ Tiến sĩ sinh học
133. Bùi Bá Minh/ 1972/ Giong 12/ Thạc sĩ duược học Quân y viện 103/ Hà Nội
134. Đặng Vũ Minh/ 1946/ Giong 10/ Công nghệ môi trường của Quốc hội
135. Nguyễn Thị Tuyết Minh/ 1977/ Giong 5/ Thạc sỹ học viện KAIS- Hàn Quốc
136. Nguyễn Xuân My/ 1941/ TS toán. Nguyên giảng viên trường ĐH KHTN, ĐH Quốc Gia
137. Đặng Thị Ngọc Mỹ/ Cao học/ Hoa Kỳ
138. Đinh Văn Nam/ 1968/ Giong 9/ Thạc sĩ hoá học./ Hà Nội

139. Đặng Việt Nga/ 1940/ Giong 7/ TS Kiến trúc sở xây dựng Lâm Đồng
140. Nguyễn Quỳnh Nga/ Cao học điện toán./ Hoa Kỳ
141. Trần Thị Nga/ 1956/ Giong 9/ Thạc sĩ Nga văn/ Hà Nội
142. Nguyễn Ngọc Ngân/ 1952/ Giong 11/ TS nông học. PGĐ viện cây đặc sản Bộ NN&PTNT
143. Phạm Nguyễn Nghiêm/ 1958/ Giong 5/ TS Y học nhãn khoa./ Hoa Kỳ
144. Đặng Thị Ngọc/ 1955/ Giong 7/ TS Y khoa
145. Nguyễn Giác Nguyên/ Cao học kinh doanh/ Hoa Kỳ
146. Nguyễn Cao Nhạc/ 1944 /Giong 6/ TS toán. Nguyên phó hiệu trưởng trường ĐH Giao thông vận tải Hà Nội
147. Mike Nguyễn/ Cao học/ Hoa Kỳ
148. Nguyễn Vũ Nhai/ 1948/ C.Trong Thạc sĩ trường dạy nghề Nam Định
149. Đặng Thị Thúy Nhài/ 1982/ Giong5/ Thạc sĩ triết học/ Hà Nội
150. Nguyễn Thị Nhài/ 1966/ Giong 7/ Thạc sĩ nông học
151. Nguyễn Xuân Nhạn Cao học nhân chủng học. Giảng viên trường ĐH Vạn Hạnh
152. Nguyễn Thị Trưng Nhị/ Thạc sĩ triết học. GS ĐH Paris Pháp
153. Đặng Vũ Nhuế/ 1925/ TS kinh tế./ Hội trưởng hội đồng hương Ái hữu Hành Thiện
154. Nguyễn Thị Nhung/ 1961/ Giong 10/ TS nông học/ Hà Nội
155. Đặng Vũ Niết/ Giong 10/ Cao học Luật/ Pháp
156. Vũ Thị Kim Oanh/ 1961/ Giong 7/ Thạc sĩ. PGĐ ngân hàng Nam Định
157. Vũ Thị Phan/ 1931/ GS sinh học. Nguyên Viện trưởng viện sốt rét ký sinh trùng
158. Đặng Châu Phiên/ TS toán. GS ĐH Marốc và ĐH Rwanda
159. Nguyễn Phúc/ Cao học điện tử. Giảng viên trường kỹ thuật Cao Thắng Sài Gòn
160. Phạm Thị Quỳnh Phương/ 1972/ Giong 10/ TS Văn hóa. Viện nghiên cứu văn hóa Hà Nội
161. Nguyễn Thị Minh Phương/ 1958/ TS Khí tượng. Trung tâm Quốc gia dự báo khí tượng thủy văn
162. Đặng Thế Phương/ TS Công ty dầu khí Vũng Tàu
163. Bùi Duy Quang/ TS khoa học. GS đại học Canađa
164. Đặng Xuân Quang/ 1973/ Thạc sĩ luật học. Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
165. Nguyễn Đăng Quang GS/TS. Giảng viên trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
166. Nguyễn Xuân Quang/ 1959/ C.Trong Thạc sĩ, nhà giáo ưu tú. Giảng viên trường ĐH Công nghiệp TPHCM
167. Phạm Nguyễn Quang/ 1959/ Giong 5/ Tiến sĩ Y học nha khoa. Hoa Kỳ

168. Tống Đình Quỳ/ TS. Giảng viên trường ĐH Bách Khoa Hà Nội
169. Lê Thị Quý/ TS. Viện Khoa Học Tự Nhiên và Công Nghệ Quốc Gia
170. Trần Tú Quyên/ 1969/ Giong 9/ Thạc sĩ Giáo dục/ TPHCM
171. Nguyễn Văn Riêm/ Cao học quản trị kinh doanh./ Hoa Kỳ
172. Đặng Đức Siêu/ 1933/ PGS. Nhà Giáo ưu tú. Nguyên giảng viên Hán Nôm trường ĐHSP
173. Đặng Quốc Sơn/ PGS/TS cơ khí. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
174. Nguyễn văn Tạo/ Tiến sĩ hoạ đồ
175. Đặng Thị Minh Tâm/ Cao học luật./ TPHCM
176. Phạm Ngọc Thái/ 1949/ Giong 5/ TS khoa học. ĐH kỹ thuật Quân sự/ Hà Nội
177. Đặng Xuân Thanh/ 1965/ TS. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam
178. Nguyễn Thế Thanh/ TS vi trùng./ Hoa Kỳ
179. Phạm Ngọc Thanh/ TS triết học. ĐH KHXH&NV/ Hà Nội
180. Đặng Hữu Thành/ Cao học điện toán./ Hoa Kỳ
181. Đặng Kim Thành/ GS.Nguyên chủ nhiệm khoa lịch sử, HV Chính trị Quốc gia TPHCM
182. Đặng Thị Thành/ Tiến sĩ nông học
183. Đỗ Văn Thành/ 1972/ Giong 7/ Thạc sĩ mỏ địa chất/ Hà Nội
184. Phạm Quốc Thắng/ 1961/ Giong 5/ Thạc sĩ. Bộ Tư lệnh Hải Quân
185. Phạm Tất Thắng/ 1947/ Giong 5/ PGS/TS. Phó viện trưởng viện nghiên cứu Kinh Tế Thương Mại
186. Đỗ Thị Thảo/ 1974/ Giong 7/ TS sinh học.Viện TN & CN Quốc Gia./ Hà Nội
187. Nguyễn Văn Thẩm/ 1982/ Giong 10/ Thạc sĩ toán tin. Giáo viên ĐHSP Kỹ Thuật Nam Định
188. Đặng Đức Thi/ 1939/ Giong 6/ TS sử học. Nguyên giảng viên trường CĐ Sư phạm TPHCM
189. Nguyễn Xuân Thiện/ TS. Giảng viên trường ĐH Thương Mại
190. Đặng Xuân Thiều/ Giong 7/ Bí thư Đảng Bộ Văn Hoá, GĐ viện Bảo tàng CM Việt Nam
191. Đặng Quốc Thông/ TS cơ khí. GS trường ĐH Syracuse./ Hoa Kỳ
192. Đặng Xuân Thu/ 1938/ GS/TS khoa học. GĐ trung tâm nghiên cứu dân số & phát triển
193. Đặng Hữu Thụ/ 1919/ TS luật. Nguyên phó Chưởng lý toà Thượng thẩm Sài Gòn
194. Đặng Quân Thuỵ/ 1928/ Giong 13/ Uỷ viên BCH TW ĐCSVN. Phó Chủ tịch Quốc Hội. Trung tướng QĐNDVN
195. Nguyễn Thị Thuỷ/ 1973/ Giong 10/ Thạc sĩ văn hoá./ Hà Nội

196. Nguyễn Xuân Thuỷ/ 1958/ Giong 10/ Thạc sĩ tài chính. PGĐ Công ty bảo hiểm Bảo Việt
197. Phạm Thị Hồng Thuỷ/ 1960/ Giong 5/ Thạc sĩ kinh tế. PGĐ Sở Tài Chính Vĩnh Phúc
198. Đặng Hồng Tiệm/ TS toán. GS trường ĐH Reims./ Pháp
199. Lê Thị Thuỷ Tiên/ Cao học
200. Đặng Tiến/ TS. Giảng viên trường ĐH Thuỷ Lợi/ Hà Nội
201. Nguyễn Thế Tiến/ Cao học Hải Dương. Trường ĐH Thuỷ Sản Nha Trang
202. Nguyễn Việt Tiến/ 1954/ Giong 7/ PGS/TS Y học. Đại tá QĐND Việt Nam
203. Tống Sỹ Tiến/ 1945/ Giong 4 TS địa chất. Uỷ ban khoa học Nhà Nước
204. Vũ Tình/ 1949/ PGS/TS. PHT trường ĐH KHXN & NV, ĐH Quốc Gia TPHCM
205. Đặng Ngọc Tĩnh/ 1955/ TS Thuỷ văn. Trung tâm Quốc gia dự báo khí tượng thuỷ văn
206. Đặng Xuân Toàn/ TS hoá. Viện thiết kế công nghiệp hoá chất./ Hà Nội
207. Nguyễn Toàn/ 1969/ Giong 3/ Tiến sĩ điện tử. Hunggari
208. Phạm Nguyễn Quỳnh Trang/ 1962/ Giong 5/ TS Y khoa. Hoa Kỳ
209. Đặng Vũ Trí/ 1952/ Giong 12/ PGS/TS Mỏ địa chất. Tổng cục địa chất
210. Nguyễn Thị Trúc/ 1953/ Thạc sĩ ngoại ngữ Thông tấn xã Việt Nam
211. Đặng Đức Trung/ 1967/ Giong 4/ Thạc sĩ xây dựng Yên Bái
212. Nguyễn Xuân Trục/ 1935/ GS/TS khoa học. Nguyên chủ nhiệm Khoa cầu đường ĐH Xây dựng. Nhà giáo ưu tú
213. Nguyễn Trường/ Cao học/ Hoa Kỳ
214. Bùi Anh Tú/ TS. Phó viện trưởng viện hoá Bộ Công Nghiệp
215. Đặng Thị Ngọc Tú/ 1978/ Giong 5/ Thạc sĩ SP. Giáo viên Trường PTTH Kim Liên/ Hà Nội
216. Đinh Anh Tuấn/ 1978/ Thạc sĩ điện tự động Hải Phòng
217. Phạm Duy Tuấn/ Cao học./ Hoa Kỳ
218. Đỗ Bạt Tuỵ/ 1920/ PGS/TS Y học. Nguyên PGĐ bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM
219. Dương Thị Tuyến/ 1959/ Giong 5/ Thạc sĩ toán. PGĐ Sở giáo dục đào tạo Vĩnh Phúc
220. Phạm Thị Kim Vân/ 1963/ Giong 7/ TS Sư phạm hà Nội
221. Phạm Vĩnh Viễn/ TS. Phó viện trưởng viện công nghệ thực phẩm
222. Nguyễn hoài Việt/ Cao học điện./ Hoa Kỳ
223. Nguyễn Xuân Việt/ Tiến sĩ

224. Đào Văn Xuân/ TS Luật./ Hoa Kỳ
225. Đặng Hồi Xuân/ 1929/ Giong 4 GS/TS Y khoa. Nguyên Bộ truởng Bộ y tế
226. Lê Thị Xuân/ 1974/ Thạc sĩ Y khoa trường ĐH Y Hà Nội
227. Nguyễn Thị Xuân/ 1980/ Giong 8/ Thạc sĩ Ngân hàng
228. Đặng Kỳ Xương Cao học, chuyên gia điện tử Hoa Kỳ
229. Nguyen Xuan Kham/ 1960/ BS Y Khoa, Thac Si Ky Su Dien Toan, Hoa Ky
230. Nguyen Dong Thai/ 1956/ Tien si Ky Su Hoa, Hoa Ky
231. Nguyen Thanh Thuy/ 1958/ BS Y Khoa TpHCM, dau dau ky thi 1976, BS Y Khoa Hoa Ky nganh Nhi Khoa va Noi Khoa

Mọi ý kiến đóng góp xin viết bằng tiếng Việt có dấu. Xin chân thành cảm ơn!
read more “Vinh danh các cán bộ tri thức thời Tân học từ 1945 - 2009”

Ai về Hành Thiện mà... nghe

Ngày xưa, làng Hành Thiện (Nam Định) được các cụ trong làng vẽ hệt hình con cá chép và khéo léo chia đều con cá làm 14 khúc. Mỗi khúc là một xóm và mỗi xóm cách nhau đúng 60m. Riêng xóm nhà cố tổng Bí thư Trường Chinh dài 600m.
Nhà lưu niệm cố Tổng bí thư TrườngChinh tại làng Hành Thiện

Từ bản đồ làng cho thấy, ngay đầu cá có một chữ Miếu, thờ ba vị thần đầu tiên đến đất này dựng làng. Sau mới đến chữ Thị - nghĩa là chợ của làng Hành Thiện. Từ rốn đến mang cá là khu dân cư. Riêng xóm nhà đồng chí Trường Chinh nằm ở giữa làng, nên dài nhất được 600m. Từ rốn cá đến đuôi, người ta ngăn một con đường vào xóm, một bên có chữ Hương Điền (ruộng làng) và một bên là nghĩa trang. Chỗ đóng khung có 2 chữ Nội tự - chính là ngôi chùa làng Hành Thiện. Chùa được xây dựng trên đất làng này từ năm 1588, nhưng từ ngày xây dựng đến nay, làng văn hoá này không nhận bất cứ một vị sư nào đến trụ trì ngôi chùa.

Theo dã sử ghi lại, làng Hành Thiện có từ thời các vương triều Trần giữ nước. Năm 1823, khi vua Minh Mạng lên ngôi năm thứ tư, thấy làng học hành đỗ đạt cao, lại chuyên làm những điều lành, vua liền ban cho làng 4 chữ Hán "Mỹ Tục Khả Phong" sơn son thiếp vàng và đổi tên làng thành Hành Thiện (Hành là làng, Thiện là lành).

Trong ngôi nhà cổ được xây dựng hơn 140 năm trước của cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội Tổng bí thư Trường Chinh), chúng tôi được ôn lại câu chuyện về cuộc đời, sự nghiệp của Tổng bí thư mà rất đỗi tự hào. Theo gia phả gia đình, gia tộc ông có gốc gác họ Trần, thuộc chi Hưng Trí Vương, con trai thứ tư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Ông nội Trường Chinh là Đặng Xuân Bảng, từng đỗ Tam giác tiến sĩ đệ nhất danh và là một học giả có tiếng tăm đương thời… Còn thân phụ của ông là Đặng Xuân Viện, cũng là một học giả được đánh giá cao, dù không gặp may mắn trên đường thi cử.

Từ nhỏ, Đặng Xuân Khu (tên thật của đồng chí Trường Chinh) đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, thơ Đường và được đào tạo bài bản về văn hoá và lịch sử theo truyền thống Nho học. Khi còn học ở bậc Thành Chung, Đặng Xuân Khu đã sớm bộc lộ tinh thần yêu nước. Ông tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu, lãnh đạo cuộc bãi khoá ở Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Sau đó, theo học ở Trường cao đẳng thương mại Đông Dương và tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí hội; tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản đảng ở Bắc Kỳ. Cuối năm 1930, ông bị Pháp bắt và kết án 12 năm tù và đày đi Sơn La, đến năm 1936 ông được trả tự do.

Từ năm 1936 - 1940, ông là Xứ Uỷ viên Bắc Kỳ, đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Uỷ ban Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ; làm chủ bút làm báo Cờ giải phóng; phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như Le Travail, Rassemblement, En Avant và báo Tin tức. Tại Hội nghị Trung ương 7, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và được cử làm Quyền Tổng Bí thư Đảng thay Nguyễn Văn Cừ. Tháng 5/1941, ông được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm Trưởng ban tuyên huấn Trung ương. Năm 1943, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt.

Nhớ lần về thăm quê cuối cùng của Tổng Bí thư Trường Chinh trong 2 ngày 10 và 11/11/1987. Sau khi hỏi han chuyện làng, chuyện xóm, Tổng bí thư kể lại: Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, Đảng ta phải rút vào hoạt động bí mật, ông đã xách va li về lại ngôi nhà này để làm việc. Được một thời gian ngắn, bọn thực dân phong kiến địa phương phát hiện, chúng báo lên với mật thám Nam Định là "Đặng Xuân Khu đang hoạt động tại địa phương", lập tức ập đến bắt ông.

Hôm đó, ông chỉ kịp cho tư liệu đang làm việc trong ngày vào va li và nhảy ra vườn đằng sau chạy về phía sông Hồng, nhờ người dân chài lưới chở sang Vũ Thư, Thái Bình. Chính trong cái tủ đứng của ông còn một số trang bản thảo, thư từ, tư liệu chưa kịp mang đi, mẹ của ông thấy động đã nhanh chóng mang mẹt vơ tất thư từ, tư liệu vùi xuống chuồng chấu một cách an toàn. Ít ngày sau khi đã yên ổn, các đồng chí liên lạc đã về thưa chuyện, rồi cùng vợ ông mang tư liệu sang cho ông.

Tổng bí thư Trường Chinh mất ngày 20/8 năm Mậu Thìn, cùng ngày, cùng tháng với Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo.

Theo banduong.vn
read more “Ai về Hành Thiện mà... nghe”

Sách "Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954"

LỜI TỰA II *

Sau cuốn “Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện triều Nguyễn” đã được nhiều độc giả thích thú, nhà biên khảo sử Đặng Hữu Thụ lại đến với chúng ta với cuốn “Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954”. Cũng như cuốn trước, đây là một công trình biên khảo công phu. Gần mười năm là khoảng cách thời gian giữa hai cuốn sách: điều này minh chứng sự cẩn trọng của tác giả trong việc sưu tầm, tra khảo tài liệu, kiểm chứng sự kiện.

Cuốn sách này có một tựa đề rất khiêm tốn, vì dường như chỉ nói đến sự việc liên quan tới làng Hành Thiện, một làng nhỏ miền Bắc. thật ra tầm vóc của cuốn sách vượt xa phạm vi của một làng, không hẳn vì làng Hành Thiện có những nhân vật lịch sử như Nguyễn Thế Truyền, Đặng Xuân Khu… mà vì cuốn sách đã có nhiều chương, nhiều đoạn nói đến những vấn đề chung của cả nước Việt Nam, và nhất là cuốn sách này đã soạn thảo theo một chiều hướng viết sử rất cận đại.

Trong năm chương đầu, tác giả đã đề cập tới bối cảnh chung của những người Việt Nam ham học từ đầu thế kỷ 20, từ việc tổ chức hành chính, chính sách của Pháp, ảnh hưởng văn hóa Pháp, những khía cạnh giáo dục (sự hình thành và phổ biến chữ quốc ngữ), kinh tế xã hội (học phí, đời sống cư xá…) tới khung cảnh những năm chiến tranh 1945 – 1954. Từ chương 16 tới chương 20 tác giả nói tới những vấn đề binh bị (tổ chức dưới thời Pháp thuộc cũng như trong thời kỳ Liên Hiệp Pháp), chính trị (các đảng phái), văn hóa (văn thơ, nhạc, họa…), xã hội (quang cảnh đời sống…), tất cả những khía cạnh này có ảnh hưởng chung tới toàn dân Việt Nam, chứ không hẳn giới hạn trong phạm vi người Hành Thiện. Trong các chương còn lại (các chương 6 tới 15), tuy để nói về các nhân vật Hành Thiện xếp theo từng ngành chuyên môn, trong mỗi đầu chương, tác giả đều có một đoạn khá dài tả việc tổ chức học hành thi cử và nghề nghiệp của từng ngành. Các đoạn này tất nhiên có giá trị chung cho cả nước Việt: thí dụ như trong ngành Y Dược, tác giả tả rất rõ về ngành Y sĩ, Dược sĩ Đông Dương trước năm 1954.
Giá trị của cuốn sách cũng được thể hiện trong phương pháp viết sử. Tác giả đã tra cứu một cách nghiêm túc, đã nghiên cứu các sự kiện một cách có hệ thống và trình bày nội dung một cách rất mạch lạc, đúng như tiêu chuẩn của các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn,… đã đề ra. Tác giả Đặng Hữu Thụ còn đi xa hơn nữa vì ông đã theo đúng đường lối của trường phái lịch sử mới, xuất hiện ở bên Pháp vào thập niên 60, có xu hướng tìm kiếm những phương pháp mới, dựa trên những dữ kiện có tính cách toàn thể của một thời đại, không những dùng sách vở hoặc văn kiện mà còn dùng các phương tiện khác, như phỏng vấn, thăm dò tại chỗ… Tất cả những phương pháp này đưa tới một khoa học mới mà ta có thể tạm gọi là khoa nhân chủng lịch sử học. Các cuốn sách của tác giả Đặng Hữu Thụ làm chúng tôi nhớ tới cuốn “Montaillou, village Occitan” của sử gia Pháp Emmanuel Le Roy Ladurie, do nhà sách Gallimard xuất bản năm 1972. Trong sách này sử gia Le Roy Ladurie áp dụng các phương pháp dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học… tả lại đời sống trong một làng nhỏ bên Pháp và có nhiều đoạn có thể được đọc say mê như đọc tiểu thuyết. Trong sách của ông Đặng Hữu Thụ, độc giả cũng tìm thấy nhiều chi tiết rất lý thú về đời sống nhiều nhân vật làng Hành Thiện. Cách viết này đánh dấu một chiều hướng viết sử hiện đại, không chú trọng tới các biến cố lớn, các triều đại, mà chú trọng tới những giá trị căn bản của con người.

Tất nhiên khi đem tâm tình viết lịch sử, và viết một cách đam mê (như Hegel đã nói: “nếu không đam mê thì không làm được việc lớn”) nhất là trong hoàn cảnh một người trong cuộc, của một tác nhân có ảnh hưởng tới thời cuộc, người viết không thể hoàn toàn khách quan (như một sử gia ngoại quốc viết về Việt Nam chẳng hạn).

Đối với người đồng hương Hành Thiện, cuốn sách này rất cần thiết để bổ sung và điều chỉnh lại các gia phả nhiều họ trong làng, vì mỗi nhân vật trong cuốn sách này đều được kể lại theo dòng dõi gia phả. Như ông Đặng Hữu Thụ đã viết, nhiều cuốn gia phả hiện có của nhiều dòng họ không được kiểm điểm cặn kẽ, nhất là trong các mục học hành và bằng cấp nên có nhiều điều sai sót. Vì ông Đặng Hữu Thụ đã kiểm tra theo các tài liệu chính thức của các kho tài liệu Pháp tất cả các bằng cấp chức vụ của các nhân vật nói trong cuốn sách này, nên các điều ông viết rất chính xác.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu cuốn “Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954” của tác giả Đặng Hữu Thụ với độc giả. Đây quả là một công trình nghiên cứu đồ sộ, một tài liệu lịch sử có tầm giá trị quan trọng vượt hẳn chủ đề cuốn sách. Cuốn sách này xứng đáng để phổ biến không những cho những người làng Hành Thiện tại hải ngoại, cho người làng tại quốc nội, mà còn cho cả những sinh viên, những nhà nghiên cứu về sử học trong cũng như ngòai nước, và nói chung là cho tất cả những ai muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam cận đại.

Nguyễn Thế Văn
Paris, ngày 30 tháng 6 năm 1999


* Đây là lời tựa thứ 2 cho cuốn Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954 - quyển thượng (Melun 1999) của tác giả Đặng Hữu Thụ, một luật gia, cựu Phó Chưởng Lý tòa Thượng thẩm Sài Gòn, cư trú tại Pháp từ sau 1975.
read more “Sách "Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954"”

Ngôi làng "cổ tích"

Tên ngôi làng "Hành Thiện" gắn với một câu chuyện đẹp về vị vua có trí và có đức - Vua Minh Mạng. Khi lên ngôi, yêu mến ngôi làng nhỏ có rất nhiều người đỗ đạt cao, người dân chân thật, hồn hậu, chuyên làm điều thiện, vua Minh Mạng đã ưu ái ban tặng cho làng 4 chữ sơn son thiếp vàng: "Mỹ tục khả phong" và đổi tên thành Hành Thiện.

Làng Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Làng được chia thành 14 xóm, tương đương với 14 khúc trên mình con cá chép, mỗi xóm cách nhau đúng 60 mét (con số này chính xác đến từng milimet). Đây là nét rất độc đáo của ngôi làng cổ này. Bản đồ của làng được lập rất công phu, thể hiện trình độ học vấn và sự uyên thâm của các bậc tiền nhân. Ở chính giữa đầu cá có chữ Miếu, chính là miếu thờ thần dựng làng, xuống dưới một chút là chữ Thị - khu chợ, nơi tụ họp đông đúc, thể hiện nét văn hóa phồn thực của cư dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Nhìn về phía cuối bản đồ, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy chữ "Nội tự", đây là ngôi chùa làng Hành Thiện (có tên gọi khác là chùa Keo Hành Thiện hay Thần Quang Tự).

Người xưa có câu "Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành Thiện". Ngôi làng nhỏ bé Hành Thiện ấy nổi tiếng là đất học, có nhiều người đỗ đạt. Dù trong giai đoạn lịch sử nào, làng Hành Thiện cũng xuất hiện những con người kiệt xuất, làm rạng danh quê hương, đất nước. Dưới thời phong kiến, làng có 419 người đỗ đạt, trong đó có 7 vị đại khoa, 3 tiến sỹ, 4 phó bảng, 97 cử nhân. Sử sách cũng đã ghi lại có những gia đình ở làng Hành Thiện có 9 người (cha - con, chú - cháu) cùng đi thi, có 7 người đỗ cao. Giai đoạn học chữ Pháp tuy rất ngắn, nhưng làng Hành Thiện cũng có 51 vị ghi danh. Trong đó có một tên tuổi đã trở thành niềm tự hào của dân làng Hành Thiện, Đặng Xuân Khu (tức cố Tổng Bí thư Trường Chinh). Cũng trong giai đoạn lịch sử này, Trường sơ học Hành Thiện được thành lập và xây dựng từ tiền công quỹ của làng, dạy học trò đến lớp nhất tiểu học (lớp vỡ lòng). Những cái tên Nguyễn Thế Rục, Đặng Xuân Khu, Đặng Xuân Thiều đã làm rạng danh làng học trong thời kỳ đầu của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những giai đoạn tiếp theo, làng Hành Thiện là nơi sinh dưỡng cho đất nước những người con ưu tú, nắm giữ những cương vị chủ chốt trong quân đội và các cơ quan Trung ương. Dù ở cương vị nào, những người con Hành Thiện cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, một lòng vì Đảng, vì nhân dân. Không thể kể hết những phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng cho những người con làng Hành Thiện. Sự nghiệp đổi mới của đất nước đang giành được những thắng lợi bước đầu, làng Hành Thiện lại tiếp tục góp sức cùng cả nước bằng tài năng, trí tuệ của mỗi thế hệ người Hành Thiện hôm nay.

Chùa Keo Hành Thiện được xây dựng theo kiểu "Nội nhị công, ngoại thất quốc" trên diện tích 5 mẫu Bắc Bộ (tương đương 1,8 ha). Chùa có quy mô bề thế với 13 tòa rộng. Dãy dài gồm 121 gian tạo thành những cụm kiến trúc hài hòa, cân đối. Chùa còn giữ được nhiều mảng chạm khắc mang đậm phong cách thời Hậu Lê và nhiều cổ vật, cổ thư có giá trị như sập thờ, tượng Đại Pháp thiền sư Không Lộ bằng đồng, chuông, khánh đồng, bia ký, hoành phi, câu đối và các sắc phong của nhiều triều đại. Sau chùa Phật là đền Thánh thờ đức Thánh Tổ Đại Pháp thiền sư Không Lộ họ Dương, người đã có công thờ vua giúp nước, được nhân dân kính trọng.

Chùa Keo Hành Thiện đã được liệt vào danh sách cổ tự theo nghị định của toàn quyền Đông Dương và được xếp hạn di tích lịch sử năm 1962 theo Quyết định của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thông tin). Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên đán và các ngày từ 13 đến 15 tháng 9 âm lịch, lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức rất long trọng với nhiều hình thức vui chơi bổ ích như bơi chải, thi đánh cờ, thi nấu cơm, thi ném pháo...

Theo tổng điều tra dân số (năm 1999), làng Hành Thiện có 6.230 người, 12% trong số đó có bằng cử nhân trở lên. Trong những năm gần đây, bình quân mỗi năm làng có trên dưới 30 học sinh thi đỗ và các trường đại học, cao đẳng. Đây sẽ là lực lượng kế cận các bậc tiền bối, tiếp nối truyền thống người Hành Thiện.

Niềm tự hào của người Hành Thiện

Đó là nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh, thuộc xóm Bảy, làng Hành Thiện. Ngôi nhà này do Tiến sỹ Đặng Xuân Bảng xây dựng vào năm Nhâm Dần (năm 1903) cho người con trai thứ tư là Đặng Xuân Viện. Trường Chinh là con trai cả của ông Đặng Xuân Viện.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương

tại Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh

Khu nhà trên gồm năm gian làm bằng gỗ lim, hướng Nam, lợp ngói ta, hai hồi và tường hậu xây gạch. Hai gian buồng ở hai đầu, có bức chạm ngăn cách với khu nhà khách ở giữa. Cửa hồi phía Đông thông xuống bếp rồi đến dãy nhà ngang lợp bổi, gồm năm gian nhỏ. Phía trước có tường hoa, sân gạch và một ao nhỏ nằm sát phía ngoài với đường giong. Bờ ao có một số cây lưu niên. Giáp đường là hàng dậu bằng tre được xén ngay ngắn. Lối vào là cổng gạch xây khá cổ kính. Bên cạnh khu nhà này vừa là ngôi nhà khách, vừa là nhà trưng bày lưu niệm, nguyên là nhà của ông Đặng Xuân Tiết - anh ruột ông Viện. Đây là ngôi nhà năm gian, bằng gỗ lim, nằm cùng dãy quay hướng Nam như ngôi nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh.

Khu nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh là di tích lịch sử gắn liền với thân thế, sự nghiệp và cuộc đời hoạt động cách mạng của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, giữ nhiều trọng trách quan trọng của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, giữ nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước, cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hàng năm, hàng ngàn lượt người đã về đây, từ các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến các đoàn khách quốc tế, các tầng lớp nhân dân để tỏ lòng thành kính với một nhân vật lịch sử kiệt xuất trong lịch sử nước Việt.

Trích từ "Nam Định - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI"-NXB Chính trị quốc gia
read more “Ngôi làng "cổ tích"”

Sự tích Cửu công làng Hành Thiện

Khoảng Tây lịch 1740, đương Đời vua Lê Ý Tân, niên hiệu là Vĩnh Hựu thứ 6, Trịnh Doanh chuyên quyền, bốn phương rối loạn. Phía đông thời có Nguyễn Tuyến, Nguyễn Cừ ở xã Lịnh Xá, nổi quân làm loạn đã làm cho chúa Trịnh hao binh tổn tướng. Phía Nam lại có Vũ Đình Dung, người xã Ngân Già thuộc huyện Nam Châu (nay là Nam Trực), phủ Xuân Trường cùng với đàng tốt là Đoàn Chấn, Tư Cao giữ thôn Đà Ninh (thuộc xã Ngân Già là sào huyệt, trong đắp một cái hang rất kiên cố thừa cơ thường ra ăn cướp phố Nhân Ninh (nay là Trực Ninh). Quan Đốc chấn ở Bạch Hạc là Hoàng Kim Tảo cùng với bộ thuộc là Nguyễn Đức Siêu, Trần Danh Quán đem binh đến đánh thua trận đề bị chết. Từ đấy thế quân nghịch càng mạnh, đồ đảng đều là quân hung tợn, không sợ chết, gặp quan quân kéo đến chỉ cầm giao tay, xông ra trận chém văng mạng, vậy nên quan quân đénh mười bảy trận đều bị thua. Chúa Trịnh bèn đổi chiến lược, đem quân sĩ kéo về Nam đánh Ngân Già để tuyệt sào huyệt của quân nghịch.Khi Chúa Trịnh cùng chư tướng kéo về Nam qua làng Vũ Điện, huyện Nam Sang đóng quân lại một đêm. Ngày mai kéo đến sông Vị hoàng tiến lên tổng Đỗ Xá, huyện Giao Thủy; bấy giờ Đinh Văn Nhai, Nguyễn Đình Hoàn, Vũ Tất Thuận, Tương Thuông mỗi người giữ một đạo, Trịnh Doanh cưỡi voi đi trước kéo thẳng vào thôn Đà Linh, đại binh tiến đến vây bốn mặt, trận đánh rất kịch liệt. Bên nghịch bốn vạn quân bị chết quá nửa, thôn Đà Ninh, máu người lai láng. Vũ Đình Dung đã bị trọng thương, nhưng vẫn còn khảng khái, xông vào trước trận đâm chết quan quân hơn trăm người, quan quân sợ chạy, Đinh Văn Nhai la truyền ba quân rằng: “quân ta đừng sợ chết, lập công báo chúa ở ngày hôm nay, thằng nào chạy chém đầu làm lệnh”. Chúng nghe lệnh đều lại hăng hái xông vào trước trận vây đánh rất dữ và đâm chết được Dung.Dẹp xong quân nghịch, Chúa Trịnh mới tước khứ tên xã Ngân Già làm xã Lai Cách.Xã Ngân Già thuộc về phủ Xuân, cách xã Hành Cung (nay là Hành Thiện) cũng không xa mấy. Đương bấy giờ chỉ huy Lén, thiên hộ Định đều là người xã Hành Cung theo hầu ở phủ Chúa Trịnh, ỷ thế chuyên quyền, về làng hách dịch, huynh thứ trong làng ai cũng ghét mắng nhiếc hai tên ấy. Từ đấy lũ tên Lén để lòng hiềm khích, nhân việc giặc Dung, muốn trả thù huynh thứ, chúng bèn bày vẽ với Chúa Trịnh rằng: huynh thứ thông với bọn giặc Chúa Trịnh tưởng thật cho bắt bọn huynh thứ thông giặc nếu dân làng giấu diếm thì triệt hạ cả làng. Dân sự ai cũng lấy làm lo sợ.Trong làng huynh thứ là ông Đặng Khắc Tướng, Nguyễn Thiện tất cả 10 người bàn với nhau rằng “Lệnh Chúa nghiêm ngặt, nếu không ai ra, sợ Chúa sai quân về tàn phá, lại hại cả làng, bất nhược ta đánh liều lên kinh làm giấy khiếu nại oan, may mà Chúa có lòng minh xét không nghe lũ kia vu cáo thì là hạnh phúc thứ nhất, bằng không may thì dẫu phải hy sinh cho hương tộc cũng cam lòng”. Trong 10 người, ông Nguyễn Thiện dùi dắng không muốn đi còn chín ông đều khẳng khái ra đi, đến phủ Chúa Trịnh kêu oan, chúa Trịnh liền sai quân đem chém, duy có ông Nguyễn Thiện nói dối ở nhà lo tiền rồi trốn mất.Chín ông bị chết; tên Lén, tên Định lấy làm đắc chí mượn thế Chúa Trịnh đem quân về đốt phá chín nhà ông ấy, ruộng nương của chín ông thì chúng chỉ làm ngụy điền, tịch ký làm của công, còn dân làng thì không ai bị thiệt hại gì cả. Không bao lâu tên Định, tên Lén đều chết, điền sản của các ông ấy lại được phúc nguyên cũ, mà con cháu đến nay vẫn được thịnh vượng, còn dòng dõi tên Lén, tên Định tuyệt diệt đã lâu. Thế mới biết trời gần.Tính danh chín ông ấy như sau:

1/ Đặng Khắc Tướng, Quốc tử giám giám sinh.
2/ Phạm Bá Hiệu, huyện thừa huyện Yên Mô,
3/ Phạm Trọng Huyện, huyện thừa châu Điện Bàn,
4/ Đặng Bá Tích, phó sở xứ
5/ Đặng Trọng Đôn, phó sở xứ
6/ Đặng Nho Cẩn. phó sở xứ
7/ Lã Đăng Đạo, tri sự,
8/ Đặng Phạm Tế, tri sự
9/ Đặng Chấn Thuyên

Trích ở Đông Thanh tạp chí số 28 ngày 15-8-1933trang 742 xuất bản tại Hà Nội
read more “Sự tích Cửu công làng Hành Thiện”

Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện

Dưới đây là phóng sự Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện được Sở VHTT tỉnh Nam Định thực hiện vào tháng 3-2007, mời các bạn cùng theo dõi, bài cũng được đăng tại NDOL:


Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức vào rằm tháng 9 âm lịch hằng năm tại Ngôi chùa "Thần Quang Tự" hay còn gọi là Chùa Keo để mừng sinh nhật của vị thánh Không Lộ Thiền Sư (Dương Không Lộ).
Độc đáo nhất có lẽ là môn đua thuyền trải: có 15 xóm trong làng tham gia đua thuyền hay gọi là bơi trải, có tất cả 10 người trên thuyền trong đó có 1 người lái thuyền. Bơi trải ở Chùa Keo Hành Thiện Nam Định khác với các nơi khác, họ không ngồi bơi mà 10 người đểu đứng để chèo. Bắt đầu xuất ở trong sông con là sông làng khoảng 5-6km rồi bắt đầu ra đến sông Ninh Cơ nhánh của sông Hồng, bơi 3.5 Vòng sông rồi quay về bắt Têu trong sông con nếu đội nào về đầu thì sẽ dành giải nhất. Trung bình mỗi cuộc thi bơi trải diễn ra từ 3.5 - 4 h đồng hồ) Đây là môn thi đấu cổ truyền rất tuyệt vời đáng được ghi nhớ cũng như lưu trong sử sách của Dân tộc ta, và vẻ đẹp của nói khó ở môn thi nào có được.
read more “Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện”