Dưới đây là phóng sự Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện được Sở VHTT tỉnh Nam Định thực hiện vào tháng 3-2007, mời các bạn cùng theo dõi, bài cũng được đăng tại NDOL:
Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức vào rằm tháng 9 âm lịch hằng năm tại Ngôi chùa "Thần Quang Tự" hay còn gọi là Chùa Keo để mừng sinh nhật của vị thánh Không Lộ Thiền Sư (Dương Không Lộ). Độc đáo nhất có lẽ là môn đua thuyền trải: có 15 xóm trong làng tham gia đua thuyền hay gọi là bơi trải, có tất cả 10 người trên thuyền trong đó có 1 người lái thuyền. Bơi trải ở Chùa Keo Hành Thiện Nam Định khác với các nơi khác, họ không ngồi bơi mà 10 người đểu đứng để chèo. Bắt đầu xuất ở trong sông con là sông làng khoảng 5-6km rồi bắt đầu ra đến sông Ninh Cơ nhánh của sông Hồng, bơi 3.5 Vòng sông rồi quay về bắt Têu trong sông con nếu đội nào về đầu thì sẽ dành giải nhất. Trung bình mỗi cuộc thi bơi trải diễn ra từ 3.5 - 4 h đồng hồ) Đây là môn thi đấu cổ truyền rất tuyệt vời đáng được ghi nhớ cũng như lưu trong sử sách của Dân tộc ta, và vẻ đẹp của nói khó ở môn thi nào có được.
Những tưởng câu nói: “Bắc Hà, Hành Thiện, Quan Diễn, Quỳnh Lôi” nói về các “miền gái đẹp” như vùng đất sông Lô nhưng hóa ra đây lại là câu vinh danh đất học và khoa bảng. Một làng có truyền thống hiếu học và nhiều người thành đạt, lại là nơi có lắm mỹ nhân...
Trong đêm chung kết cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, có một điều bất ngờ đầy thú vị là một người con làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, vùng đất nổi danh khoa bảng trở thành Á hậu 2, đó là Đặng Minh Thu. Trước đấy, hai Hoa hậu Việt Nam Nguyễn Diệu Hoa (1990) và Nguyễn Thu Thủy (1994) cũng là người quê ở Hành Thiện.
Đường vào xóm 7 làng Hành Thiện
Quê hương những người đẹp
Vượt qua thành phố Nam Định khoảng 30 km, chúng tôi có mặt ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường vào một buổi sáng. Trời mưa to nên đường làng vắng lặng, thoảng có người qua thì lại trùm kín áo mưa nên đi mãi mà chúng tôi vẫn chưa có cơ may được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các cô gái làng.
Theo như chúng tôi được biết thì Hoa hậu Việt Nam 1994 Nguyễn Thu Thủy có bố là Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Văn Lợi - Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học - thuộc dòng họ Nguyễn ở làng Hành Thiện.
Hiện tại ông bà nội của Thu Thủy vẫn đang sinh sống ở quê. Hoa hậu Việt Nam 1990 Nguyễn Diệu Hoa thì có mẹ là người gốc làng Hành Thiện. Ông ngoại cô là Giáo sư y khoa Đặng Vũ Hỷ, cậu ruột là Giáo sư - Viện sĩ Đặng Vũ Minh nổi tiếng khắp vùng về tinh thần hiếu học và đỗ đạt cao.
Còn Á hậu 2 Đặng Minh Thu vừa đăng quang đêm 2/9 thì thuộc dòng họ Đặng Xuân ở Hành Thiện. Rời làng xuất cảnh sang Nga từ khi 3 tuổi, ký ức về quê hương của Thu rất ít nên cô chỉ biết quê mình ở Nam Định, thuộc họ Đặng Xuân ở làng Hành Thiện.
Thấy chúng tôi hỏi thăm về những mỹ nhân Hành Thiện đã từng đăng quang ngôi hoa hậu, á hậu của các cuộc thi người đẹp Việt Nam, ông Phó chủ tịch xã Xuân Hồng ngớ người ra: “Thế à! Giờ chị nói tôi mới biết đấy. Chúng tôi có biết thông tin gì đâu. Chắc các cô ấy chỉ là gốc gác ở Hành Thiện thôi chứ không phải người sinh sống ở làng. Người làng hiện tại mà có người đoạt giải lớn như thế, lại phát trên truyền hình thì chúng tôi biết ngay”.
Anh Phan Hùng Cường, cán bộ chuyên trách văn hóa xã cũng lắc đầu thành thật: “Quả thực là chúng tôi không biết gì thông tin về những người đẹp này cả. Chắc chỉ có đời cụ, đời ông, hoặc cùng lắm đời bố của họ là sinh ra ở Hành Thiện thôi. Còn họ hoặc sinh ra ở nơi khác, hoặc rời làng từ khi còn rất nhỏ. Còn nói về lịch sử thì Hành Thiện không nổi danh là “miền gái đẹp” như một số địa danh khác. Con gái Hành Thiện chưa thấy có ai đẹp nổi trội hẳn đến mức phải làm dư luận xôn xao”.
Nhờ sự dẫn đường của anh Phan Hùng Cường, chúng tôi tìm đến những người dòng họ Đặng Xuân hiện còn đang sinh sống tại làng. Anh Đặng Xuân Tiến, người duy nhất của họ Đặng Xuân ở lại làng trông coi nhà thờ cụ Đặng Xuân Bảng - ông nội cố Tổng Bí thư Trường Chinh - vui vẻ trao đổi với chúng tôi: “Tôi cũng có theo dõi cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt 2007 trên truyền hình. Khi xem phần dự thi của thí sinh Đặng Minh Thu, thấy giới thiệu quê ở Nam Định, tôi đã ngờ ngợ cô gái này thuộc dòng họ Đặng ở Hành Thiện. Thế nhưng vì thiếu thông tin nên khi tra gia phả tôi không thể tìm ra cô ấy thuộc chi nào, nhánh nào.
Đặng Minh Thu - cô gái đất khoa bảng
là ứng cử viên đại diện Việt Nam thi Hoa hậu Thế giới.
Nhờ sự dẫn đường của anh Phan Hùng Cường, chúng tôi tìm đến những người dòng họ Đặng Xuân hiện còn đang sinh sống tại làng. Anh Đặng Xuân Tiến, người duy nhất của họ Đặng Xuân ở lại làng trông coi nhà thờ cụ Đặng Xuân Bảng - ông nội cố Tổng Bí thư Trường Chinh - vui vẻ trao đổi với chúng tôi: “Tôi cũng có theo dõi cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt 2007 trên truyền hình. Khi xem phần dự thi của thí sinh Đặng Minh Thu, thấy giới thiệu quê ở Nam Định, tôi đã ngờ ngợ cô gái này thuộc dòng họ Đặng ở Hành Thiện. Thế nhưng vì thiếu thông tin nên khi tra gia phả tôi không thể tìm ra cô ấy thuộc chi nào, nhánh nào.
Họ Đặng ở Hành Thiện có 4 dòng Đặng Đức, Đặng Khắc, Đặng Xuân, Đặng Ngọc. Còn như dòng họ Đặng Vũ bên ngoại của Hoa hậu Nguyễn Diệu Hoa thì là dòng con nuôi họ Đặng. Hiện tại, gia phả dòng họ Đặng Xuân có chép đến đời thứ 11, còn gia phả họ Đặng đại tôn thì ghi đến đời thứ 18. Gia phả chỉ ghi đến đời ông, thậm chí không có cả tên bố nên việc tìm ra tên con cái là rất khó.
Còn nói về con gái đẹp trong dòng họ Đặng Xuân thì hầu như thế hệ nào cũng có. Thế nhưng các cụ chỉ chú ý ghi chép về truyền thống hiếu học và thành đạt của dòng họ chứ chẳng ai ghi chép về sắc đẹp của các cô gái họ Đặng cả. Vì thế đến nay chúng tôi chỉ nghe phong thanh các bậc cha chú vui miệng trò chuyện về một bà, một cô nào đó rất đẹp trong họ nhưng chưa bao giờ được diện kiến. Vì những người đó hoặc là già cả, đã mất, hoặc là rời làng đi nơi khác từ rất lâu rồi”.
Luôn coi việc học tập là một nghề
Theo ông Nguyễn Đặng Hùng thì thời phong kiến, Hành Thiện có 419 người đỗ đạt, trong đó có đến 7 người đỗ đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Làng có 4 người làm quan thượng thư, 4 người là tuần phủ, 4 người là tổng đốc, 69 người làm tri phủ, tri huyện...
Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Hành Thiện có 45 người là giáo sư, phó giáo sư; 166 người là tiến sĩ, thạc sĩ; 1.493 người tốt nghiệp đại học.
Hành Thiện còn là nơi xuất thân của 16 cán bộ cao cấp, đảm nhiệm các chức vụ từ Thứ trưởng đến Tổng bí thư của Đảng; 7 tướng lĩnh quân đội; 3 Anh hùng LLVTND.
Đặc biệt, đây còn là quê hương của đồng chí Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh, là Tổng Bí thư của Đảng nhiều năm, nhà lãnh đạo kiệt xuất, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Để có được truyền thống khoa bảng và hiếu học nổi danh khắp nơi là do người Hành Thiện luôn coi việc học tập là một nghề bên cạnh nghề làm ruộng và dệt vải. Người làng không sợ thiếu tiền của mà chỉ sợ thiếu chữ. Vì vậy người Hành Thiện đều cố công học chữ để làm người sống có đạo lý, có tri thức, phục vụ xã hội.
Có những người như ông Nguyễn Trọng Trù cảnh nhà hàn vi, nhờ tranh thủ học trong những lúc đi cày, đi bừa, giã gạo mà thi đỗ tú tài năm 19 tuổi, 25 tuổi thì đỗ cử nhân. Ông Nguyễn Đăng Thiện, đỗ tú tài năm 19 tuổi nhưng vẫn miệt mài theo đuổi đèn sách đến năm 60 tuổi mới thi đỗ cử nhân.
Ông Đặng Vũ Tường, 4 lần thi đỗ tú tài, đến 53 tuổi thì đỗ cử nhân và được bổ nhiệm làm quan tri huyện. Theo quy định ngày ấy thì quan lại không được phép dự thi tiếp nên ông đã treo ấn từ quan để về quê tiếp tục sách bút và vào kỳ thi Hội năm 64 tuổi.
Người dân Hành Thiện vẫn nhớ về thần đồng Đặng Xuân Bảng (ông nội đồng chí Trường Chinh) như một điển hình cho truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng. Thời đó, ông Bảng nhà nghèo, không có tiền theo học thầy mà chỉ học cha là ông Đặng Viết Hòe mà đỗ Tiến sĩ năm 29 tuổi. Biết chuyện, Vua Tự Đức cảm phục đã ban cho bố con ông 4 chữ “Giáo tử đăng khoa” (Dạy con thi đỗ).
Những tưởng câu nói: “Bắc Hà, Hành Thiện, Quan Diễn, Quỳnh Lôi” nói về các “miền gái đẹp” như vùng đất sông Lô nhưng hóa ra đây lại là câu vinh danh đất học và khoa bảng. Một làng có truyền thống hiếu học và nhiều người thành đạt, lại là nơi có lắm mỹ nhân... Thật đúng là hiếm quá!
Sư họ Dương, không rõ tên thật là gì, quê ở làng Hải Thanh. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Sư theo Thiền sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.
Phong cách Sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng mắc vật chất thường tình, chỉ tinh chuyên Thiền định, trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình.
Sau khi đắc đạo, Sư có thể bay trên không, hoặc đi trên mặt nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục. Những pháp thuật thần bí của Sư không đo lường được.
Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lý Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng, thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang(1) là nơi Sư trụ trì.
Tác phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn.
Kệ Ngôn Hoài
Trạch đắc long xà địa khả cư, Dã tình chung nhật lạc vô dư. Hữu thời trực thướng cô phong đảnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Dịch:
Lựa nơi rồng rắn đất ưa người, Cả buổi tình quê những mảng vui. Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm, Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.
(Ngô Tất Tố)
Thơ Ngư Nhàn
Vạn lý thanh giang vạn lý thiên, Nhất thôn tang giá nhất thôn yên. Ngư ông thùy trước vô nhân hoán, Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.
Dịch:
Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời, Một làng dâu giá, một làng hơi. Ông chài mê ngủ, không người gọi, Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.
(1) Thiền sư Không Lộ chùa Nghiêm Quang: Chùa Nghiêm Quang đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị hủy hoại vì bão lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thường gọi là chùa Keo dưới.
Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất của cụ Tả Ao là chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định: cụ đi tới làng Hành Thiện thấy đất làng hình con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh. Dân làng nghe cụ nói bèn hậu đãi trà rượu và khẩn khoản xin cụ đặt lại hướng làng. Cụ Tả Ao thấy dân làng tử tế liền chỉ cho làng đào một cái giếng lớn làm mắt cho con cá chép, từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng.
Bản đồ làng Hành Thiện được vẽ bởi ông Đặng Văn Lâm
Cụ Tả Ao đi xem đất suốt từ Nghệ Tĩnh ra các làng mạc ở khắp miền Bắc và trong gia phả của nhiều gia đình còn ghi lại những công trình địa lý phong thủy của cụ. Nhiều chuyện khôi hài do quần chúng thêm thắt như chuyện cụ Tả Ao thấy dân làng kia rất xấu tính mà lại xin cụ để kiểu đất nào có thể "đè đầu thiên hạ", cụ liền tìm cho làng một kiểu đất khiến dân làng dần dần theo nghề "húi tóc" có thể "đè đầu vít thiên hạ" đúng như ý nguyện!
Tương truyền cụ đang đi chơi ngoài bãi biển thấy sóng gió nổi lên ầm ầm biết là hàm rồng 500 năm mới há mồm một lần ở biển Đông, liền chạy về nhà mang cốt mẹ ra định ném xuống hàm rồng, nhưng vì thương tiếc chần chờ nên hàm rồng đóng lại, biển khép êm sóng lặng như trước!
Lúc sắp chết, cụ dặn con cháu khiêng mình ra miếng đất đã định trước là đất địa tiên "nhất khuyển trục quần dương" (một con chó đuổi đàn dê), nhưng không kịp đành dừng lại nửa đường phân kim lựa cho chính mình một miếng đất phúc thần đời đời ăn hương hoa mà thôi.
Họ Đặng Hữu - Hành Thiện được bắt đầu từ cụ tổ Phụng Lộc Bá - Đặng Nhân Trí về dựng nghiệp tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định.
Đến nay đã qua 13 đời con cháu của cụ, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử của đất nước dòng họ Đặng Hữu - Hành Thiện cũng có nhiều biến động. Các con cháu của cụ đã phân tán đi khắp nơi trên toàn quốc cũng như ra nước ngoài.
Để nhớ lại cội nguồn, tìm lại những người trong dòng tộc, dựa vào những tư liệu do một số người trong họ cung cấp tôi đã biên soạn phả hệ đồ này. Do tư liệu có hạn, người cung cấp thông tin cũng nhớ không chính xác vì vậy phả hệ đồ chắc chắn có nhiều sai sót.
Để giúp những thành viên trong dòng tộc có thể liên lạc được với nhau và để hoàn chỉnh được phả hệ đồ, tôi mong muốn nhận được sự đóng góp của tất cả các thế hệ con cháu của cụ Phụng Lộc Bá - Đặng Nhân Trí.
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về :
Anh : Đặng Trần Ngọc
Địa chỉ: số 1 Ngõ 29/72 phố Thượng Thanh, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Mặc dù rất bận bịu (mỗi ngày phải tiếp tới 15-16 khách, cả khách đã hẹn trước lẫn những người đột ngột tới vì có công việc cần), ông vẫn dành cho chúng tôi trên dưới 30 phút để trò chuyện.
Giáo sư - AHLĐ Vũ Khiêu tại nhà riêng
Kẻ sĩ, cũng như những minh quân, càng cao niên càng dễ cảm thấy buồn và thấm thía hơn sự chông chênh của kiếp người có chữ, có chí. Đến như Nguyễn Trãi khi tóc pha sương cũng phải mượn câu thơ của Tô Đông Pha “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn” (Người đời mà biết chữ thì nhiều lo lắng hoạn nạn) để hạ một câu tâm sự cháy gan ruột: “Pha lão tằng vân, ngã diệc vân” (Tô Đông Pha từng nói thế, ta cũng nói thế). Nhưng dù từng phải vận hạn thế nào thì một trí nhân đích thực khi đã vượt qua cái mốc “thất thập cổ lai hy” thì cũng nên nhìn xung quanh một cách vô thường, vẫn đắm đuối với những nỗi đời ấm lạnh, nhưng cũng đừng nên quá bi quan mà tổn “thọ lộc” trời cho.
Không hài lòng với hiện tại nhưng nhìn tương lai với những hy vọng - đó có lẽ là cách hành xử duy nhất đúng của các cao nhân trưởng lão. Tôi đã nghĩ như thế sau cuộc trò chuyện với Giáo sư Vũ Khiêu, Anh hùng Lao động thời đổi mới.
Cả làng cùng học
Thưa Giáo sư, ông là người làng Hành Thiện, cái nôi nổi tiếng của rất nhiều tên tuổi sáng chói trong bầu trời chính trị, văn học, nghệ thuật, khoa học Việt Nam. Đất sỏi trạch vàng, các cụ ta ngày xưa từng nói vậy. Có điều gì duy tâm chăng nếu ta giải thích hiện tượng nhiều danh nhân tầm cỡ quốc gia lại tập trung ở một làng nhỏ, đất chật người đông như vậy của tỉnh Nam Định, là ở yếu tố “địa linh nhân kiệt”?
Các bạn nghĩ thế nào, có gì thần bí hay không thì tùy, tôi cũng không biết nữa. Tôi thì tôi chỉ nghĩ rằng, mọi sự đều có tác động từ những nhân tố kinh tế - xã hội...
Tên khai sinh: Đặng Vũ Khiêu. Sinh ngày 19/9/1916 tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Từng là cán bộ thông tin, tự học mà nên. Từng giữ chức Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, Phó Chủ nhiệm ủy ban Khoa học xã hội, Viện trưởng Viện Triết học. Tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có “Cao Bá Quát” (1970), “Ngô Thì Nhậm” (1976), “Nguyễn Trãi” (1980), “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng của người trí thức Việt Nam” (1980), “Bàn về văn hiến Việt Nam” (3 tập, năm 2000)... Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (năm 1996).
Đất Nam Định cũng là nơi có truyền thống hiếu học, một trong những cái nôi nhân sĩ trí thức lớn nhất của Bắc Bộ. Tuy nhiên, ở Nam Định cũng không nhiều làng lại tập trung được đông các “danh gia vọng tộc” và những tài năng về mọi mặt như Hành Thiện. Tôi cứ mường tượng tới một điều gì đó giống như vận may hay cơ duyên kỳ ngộ mà đất trời mang lại, chứ không chỉ thuần túy do những cố gắng của con người...
Mỗi một làng có một nghề riêng, có đặc sản riêng, hình thành theo các điều kiện khác nhau trong lịch sử. Thí dụ, nổi tiếng về đồ gốm sứ tốt thì là làng Bát Tràng... Hành Thiện là nơi người đông đất hẹp, nghề phụ chỉ có nghề đi học và nghề dệt vải... Ruộng đất rất ít cho nên nông dân ở làng so với tỉ lệ của những nhà trí thức cũng thấp hơn. Từ đấy nên xây dựng được truyền thống hiếu học, gia đình nào cũng thế, không có tiền đi học ở bên ngoài thì học tập dạy dỗ lẫn nhau, cha dạy con, anh dạy em, chú dạy cháu, cứ thế từ đời này sang đời khác...
Tôi nhớ, Giáo sư từng viết về không khí học tập ở làng quê mình thời trước như sau: “Buổi sáng sớm trong vùng ấy đã vang lên tiếng đọc sách của con trai, tiếng đập vải của con gái xen lẫn tiếng sáo diều réo rắt suốt đêm. Con giai cố học giỏi thi đỗ, con gái gìn giữ nết na để phụng dưỡng cha mẹ, để giúp chồng ăn học, dễ dạy con cái nên người:
"Sáng trăng, trải chiếu đôi hàng,
Cho anh đọc sách, cho nàng quay tơ...”
Thực thơ mộng! Lớn lên trong không khí ấy thì không thể không mê nghiệp đèn sách. Tôi muốn nhờ Giáo sư lý giải hộ điều này: Phải chăng là vì một làng mà có nhiều người hiếu học và học giỏi nên vừa tạo được phong trào học hỏi lẫn nhau cũng như thi đua với nhau học tập, dòng họ này với dòng họ khác, người này với người khác... “Con gà tức nhau tiếng gáy” cũng là một kiểu thi đua cổ truyền của Á Đông...
Không có điều kiện để làm những nghề khác nên người làng tôi tập trung vào việc học tập. Đi học và dạy học là một cái nghề phổ biến. Tôi nhớ, ông nội cố Tổng Bí thư Trường Chinh là cụ Nghè Đặng Xuân Bảng, chỉ theo học cha mình mà đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (năm 1856)...
Đó là dưới triều vua Tự Đức. Tôi cũng nghe nói thời ấy đỗ Tiến sĩ là khó khăn lắm, không nhiều người được vinh dự đó đâu...
Đúng. Bởi lẽ vua Tự Đức là người thông hiểu Nho học, giỏi thơ văn. Ông tự mình chấm Tiến sĩ, chứ không giao cho ai khác việc này. Khi cụ Đặng Xuân Bảng đậu ông Nghè, đã được vua Tự Đức ban cho biển đề: “Phụ giáo tử đăng khoa”, nghĩa là cha dạy con mà thành đạt! Vẻ vang thế đấy...
Nếu tôi nhớ không nhầm thì hình như cụ Nghè Đặng Xuân Bảng về sau có làm tới chức Tuần phủ tỉnh Hải Dương, rồi lại chuyển sang làm Đốc học tỉnh nhà Nam Định nên người ta hay gọi là Cụ Tuần Đốc...
Đúng thế. Cụ Tuần Đốc về sau cũng mở trường dạy học. Em ruột của cụ cũng từng làm giáo thụ ở phủ Kiến Xương bên Thái Bình. Bởi thế, học trò theo học các cụ rất đông... Con em trong nhà theo học cũng nhiều... Thân phụ của ông Trường Chinh cũng nổi tiếng về viết sách...
Phúc đức tại mẫu
Thế dòng họ Đặng Vũ của Giáo sư thì thế nào? Hình như một người bà con của Giáo sư, lương y Đặng Vũ Chương, có viết hai câu thơ nhắc tới truyền thống của gia đình dòng họ Đặng Vũ: “Một nét văn chương, một nét nhà, Một hồn thơ triết, một đời hoa...”.
Ông cụ trước tôi ba đời tới tuổi 40 mà chưa đỗ đạt gì cả. Về sau, ông cụ lấy một bà bên Trực Ninh làm vợ, tuổi lúc đó cũng gần 30. Xuất giá tòng phu, bà cụ về nhà chồng, chăm lo cho chồng ăn học. Hai cụ sinh được 6 người con, trong đó có hai con gái. Các cụ cũng bắt các con gái của mình phải chăm lo cho chồng ăn học. Hai người con rể của các cụ về sau đều đỗ cao, làm quan to lắm...
Tôi được nghe kể lại, gia đình các cụ hồi đó rất nghèo, cơm chẳng đủ mà ăn, phải ăn kèm cả cám, nhưng con cái trong nhà vẫn rất chí thú học hành. Tất cả 4 người con trai của các cụ về sau đều đỗ cử nhân hết, làng gọi là “tứ tử đăng khoa”... Trong chuyện này cần phải nói rằng, không chỉ nhờ cha dạy con mà còn ở phần rất lớn nhờ vai trò của bà mẹ dệt vải suốt ngày suốt đêm để nuôi chồng con ăn học. Phúc đức tại mẫu. Người đàn bà có vai trò rất quan trọng để tạo dựng nên truyền thống hiếu học của một làng quê. Các cô gái ở làng ngày xưa cũng thường chọn những người có chữ để lấy làm chồng...
Hội làng Hành Thiện do ông Đặng Vũ Nhuế làm chủ tịch. Ông sinh năm 1925, du học từ năm 1948. Ông là nhà khoa học, khảo cứu văn học, và dịch giả. Chính ông đã chuyển tác phẩm "Truyện Kiều và Tuổi Trẻ" của Giáo sư Phạm thị Nhung và Lê Hữu Mục sang Anh ngữ. Mỗi năm, một buổi hội làng được tổ chức, gồm có:
Tế lễ Thành Hoàng của làng
Thuyết trình văn hoá
Tiệc trà
Văn Nghệ
Khi được mời với tư cách thân hữu, người đến tham dự không phải đóng tiền. Ban tổ chức không nhận bất cứ quà gì, kể cả hoa. Hội làng Hành Thiện không dành riêng cho những người gốc làng Hành Thiện, mà chung cho mọi người đến từ ba miền Việt Nam. Làng Hành Thiện là biểu tượng về truyền thống văn hoá và hội làng. Hội viên đóng niên liễm 25 euros, góp vào việc in báo Hành-Thiện (mỗi năm 03 cuốn), chuẩn bị tiệc trà, và thuê phòng Khánh Tiết của tỉnh (thường là tỉnh Ivry-Sur-Seine ở sát Paris về hướng đông-nam, Métro "Station Mairie d'Ivry").
Báo Hành-Thiện được nhiều nhà khảo cứu hợp tác nên nội dung rất phong phú. Hành Thiện là một làng lớn cạnh sông Ninh-Cơ thuộc tỉnh Nam Định, Bắc Việt. Làng có diện tích rộng, dân số cao, văn học và kinh tế lâu đời. Nhân sự ở nước ngoài có trình độ kiến thức rất cao và đầy đủ điều kiện vật chất, nên đã lập hội làng Hành Thiện ở nhiều quốc gia tại Âu châu, Úc châu, Mỹ châu và Gia-Nã-Đại.
Năm nay, buổi hội làng Hành Thiện được tổ chức vào chiều Chủ Nhật 27 tháng 10, từ 14 giờ đến 17 giờ 30. Trọng Bình và Thùy Huyên nhận được hai lần giấy mời do bác sĩ thi sĩ Văn Bá và giáo sư nhiếp ảnh gia Bùi Sĩ Thành thay mặt Ban Tổ Chức gửi tới từ trung tuần tháng Chín 2002. Mặc dù công việc bề bộn, hai vợ chồng cũng cố thu xếp để tới tham dự đúng giờ. Địa điểm buổi lễ ở trong khu nhà khang trang gồm nhiều phòng lớn, ở ngay góc phố Robespierre, cạnh nhà thờ Saint Pierre, gần toà Thị trưởng. Bên trong cổng là văn phòng có hai nhân viên thường trực. Phòng Khánh Tiết dành cho buổi hội làng Hành Thiện dài rộng có đủ tiện nghị, thoáng mát. Sát tường trong cùng là bàn thờ Thành Hoàng Hành Thiện có treo câu đối chữ Nho, trên chiếc bàn gỗ kiểu cổ có lư hương, hai bên là cặp lọng đỏ viền kim tuyến. Đối diện bàn thờ là các hàng ghế lịch sự. Trọng Bình và Thùy Huyên gặp ngay cặp uyên ương thi sĩ Đỗ Bình và nghệ sĩ Thúy Hằng đứng cạnh ca sĩ Thanh Hùng, ban kịch Văn Bá gồm bác sĩ Nguyễn văn Ba tức thi sĩ Văn Bá cùng phu nhân Sylviane Nguyễn, luật sư Lê Vinh Quang và phu nhân dược sư Lệ Châu, ông Nguyễn văn Đức, bà Lệ Sương, cô Kim Hoa. Hai bên tay bắt mặt mừng. Trưởng ban tổ chức Đặng Vũ Chính tươi cười tiếp đón mọi người. Gian phòng đông đảo một cách mau chóng. Mặc dù đó là thời gian đổi giờ muà đông (ba giờ sáng Chủ Nhật thụt lại thành hai giờ sáng), quan khách đến rất đúng giờ.
Bên cạnh bàn thờ là Ban Nhạc gồm các nghệ sĩ Đoàn văn Linh, Minh Châu, Ngọc Bích. Buổi lễ bắt đầu sau khi chủ toạ là giáo sư Bích Thuận và phu quân Émile Hiếu được dẫn vào chỗ ngồi. Ba vị đội khăn mặc áo tế màu xanh với huynh trưởng Đặng Hữu Thụ đứng giữa ra đứng làm lễ tế Thành Hoàng trong bầu không khí trang nghiêm nhưng không kém phần thân mật. Tiếp đó, MC Đặng Vũ Chính nhắc lại lịch sử làng Hành Thiện, đọc chương trình, rồi giới thiệu ban thuyết trình gồm có thi sĩ Văn Bá cùng phu nhân Sylviane Nguyễn, ông Nguyễn văn Đức và bà Lệ Châu. Đề tài thuyết trình về Bác Sĩ Yersin, người có công lớn với dân Việt Nam. Trong 45 phút, bốn vị thay phiên thuyết trình bằng Việt ngữ và Pháp ngữ. Cử toạ hiểu rõ từng chi tiết về bác sĩ Yersin là người đã dành trọn đời mình cho dân ta. Ông đã khổ công nghiên cứu tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch cùng cách chữa trị, cứu biết bao sinh linh tại Việt Nam và Đông Nam Á châu nói riêng, và toàn thể thế giới nói chung. Bài viết giá trị này sẽ được bác sĩ Nguyễn văn Ba tức thi sĩ Văn Bá xem xét kỹ lưỡng một lần nữa để cho ra mắt độc giả nay mai, theo lời hứa của bác sĩ với nhà văn nhà thơ Bình Huyên.
Sau bài thuyết trình, cử toạ được ít phút đứng lên, đi lại, hàn huyên với bạn bè, và làm vài việc cần. Trong số cử toạ còn thấy ông Vũ Hùng Nghiên cùng phu nhân (là cựu tham vụ ngoại giao của Việt Nam Cộng Hoà tại Thái Lan, bây giờ là nhà khảo cứu về chữ Hán), bà Đoàn văn Linh, nữ nghệ sĩ Ngọc Xuân (là ngườin có giọng ngâm thơ tuyệt vời, lại có tài làm thơ đậm đà), ông bà Đỗ Đăng Di, gia đình ông bà Trịnh Kim Giao-Đỗ Như Bích cùng con trai Trịnh Kim Khôi, nữ thi sĩ Hoàng Minh Tâm, ...
Giáo dư nhiếp ảnh gia Bùi Sĩ Thành tiết lộ: "Toà Thị Trưởng ấn định số người tham dự không được quá một trăm, vì lý do an ninh bảo hiểm." Tuy nhiên, con số ấy đã bị vượt quá. Thi sĩ Văn Bá mời một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, trong có Trọng Bình và Thùy Huyên, lên trước bàn thờ để chụp ảnh, quay phim làm kỷ niệm. Tiếp đó, tiệc trà được Ban Tiếp Tân phân phối, mang mời quan khách, thân hữu. Ca sĩ Thanh Hùng mở đầu chương trình văn nghệ bằng hai bản “Làng Tôi" của Chung Quân và "Mấy Dậm Sơn Khê" của Nguyễn văn Đông. Khán giả say mê theo dõi tiếng hát hàng đầu từ trong nước ra hải ngoại, mặc cho năm tháng chồng chất mà âm lượng vẫn phong phú quyến rũ lạ thường. Tràng pháo tay thứ nhất tán thưởng nồng nhiệt níu kéo người danh ca ở lại máy vi âm. Tràng pháo tay thứ hai đưa người nghệ sĩ về chỗ ngồi trong nuối tiếc, nhưng đồng thời dẫn lên sân khấu thính phòng một nữ ca sĩ khả ái có giọng hát đầy sinh lực. Đó là nữ ca sĩ Kim Thu. Tiếp theo bản "Hoài Thu" ngây ngất của tác giả Văn Trí, nữ ca sĩ cống hiến khán giả bản "La vie en rose" (lời của Édith Piaf , nhạc của Louigy, sáng tác năm 1942), và nhận được những tràng pháo tay nồng hậu. Phòng Khánh Tiết tràn ngập đủ loại âm thanh cùng lời ca đầy nhiệt tình của các ca sĩ tài tử. Phong Thủy với "Thu Quyến Rũ" của Đoàn Chuẩn Từ Linh, được phu quân thổi kèn saxo đệm theo. Sau bản "Cánh Hoa Yêu", Ngọc Xuân trổ tài ngâm thơ diễn tả bài "Khát Khao" của bác sĩ thi sĩ Kim Thành Xuân. Hải Yến gợi nhớ nhạc sĩ Lam Phương với bản "Đường Về Quê",...
Buổi hội làng Hành Thiện chấm dứt trong âm thanh du dương chất chứa nhiều nuối tiếc cho một buổi chiều mùa Thu Paris trôi đi quá nhanh. Mọi người chia tay, nhìn nhau, thầm hẹn lần gặp gỡ sau. Tất cả hình ảnh, lời nói, tiếng nhạc tuôn ra khỏi cổng khu nhà khánh tiết, nhập vào bóng tối ngoài đường phố êm đềm giữa tỉnh Ivry-Sur-Seine thơ mộng, hoà vào hương vị cùng âm thanh cao sang từ kinh đô ánh sáng Paris đang ào ạt chạy tới, cám dỗ con người vào những thú vui ban đêm đang chờ đón khắp nơi!
Làng Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định là một ngôi làng giàu truyền thống, hiện vẫn còn lưu giữ được nhiều di tích lịch sử cấp nhà nước...