Sách "Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954"

LỜI TỰA II *

Sau cuốn “Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện triều Nguyễn” đã được nhiều độc giả thích thú, nhà biên khảo sử Đặng Hữu Thụ lại đến với chúng ta với cuốn “Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954”. Cũng như cuốn trước, đây là một công trình biên khảo công phu. Gần mười năm là khoảng cách thời gian giữa hai cuốn sách: điều này minh chứng sự cẩn trọng của tác giả trong việc sưu tầm, tra khảo tài liệu, kiểm chứng sự kiện.

Cuốn sách này có một tựa đề rất khiêm tốn, vì dường như chỉ nói đến sự việc liên quan tới làng Hành Thiện, một làng nhỏ miền Bắc. thật ra tầm vóc của cuốn sách vượt xa phạm vi của một làng, không hẳn vì làng Hành Thiện có những nhân vật lịch sử như Nguyễn Thế Truyền, Đặng Xuân Khu… mà vì cuốn sách đã có nhiều chương, nhiều đoạn nói đến những vấn đề chung của cả nước Việt Nam, và nhất là cuốn sách này đã soạn thảo theo một chiều hướng viết sử rất cận đại.

Trong năm chương đầu, tác giả đã đề cập tới bối cảnh chung của những người Việt Nam ham học từ đầu thế kỷ 20, từ việc tổ chức hành chính, chính sách của Pháp, ảnh hưởng văn hóa Pháp, những khía cạnh giáo dục (sự hình thành và phổ biến chữ quốc ngữ), kinh tế xã hội (học phí, đời sống cư xá…) tới khung cảnh những năm chiến tranh 1945 – 1954. Từ chương 16 tới chương 20 tác giả nói tới những vấn đề binh bị (tổ chức dưới thời Pháp thuộc cũng như trong thời kỳ Liên Hiệp Pháp), chính trị (các đảng phái), văn hóa (văn thơ, nhạc, họa…), xã hội (quang cảnh đời sống…), tất cả những khía cạnh này có ảnh hưởng chung tới toàn dân Việt Nam, chứ không hẳn giới hạn trong phạm vi người Hành Thiện. Trong các chương còn lại (các chương 6 tới 15), tuy để nói về các nhân vật Hành Thiện xếp theo từng ngành chuyên môn, trong mỗi đầu chương, tác giả đều có một đoạn khá dài tả việc tổ chức học hành thi cử và nghề nghiệp của từng ngành. Các đoạn này tất nhiên có giá trị chung cho cả nước Việt: thí dụ như trong ngành Y Dược, tác giả tả rất rõ về ngành Y sĩ, Dược sĩ Đông Dương trước năm 1954.
Giá trị của cuốn sách cũng được thể hiện trong phương pháp viết sử. Tác giả đã tra cứu một cách nghiêm túc, đã nghiên cứu các sự kiện một cách có hệ thống và trình bày nội dung một cách rất mạch lạc, đúng như tiêu chuẩn của các học giả Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn,… đã đề ra. Tác giả Đặng Hữu Thụ còn đi xa hơn nữa vì ông đã theo đúng đường lối của trường phái lịch sử mới, xuất hiện ở bên Pháp vào thập niên 60, có xu hướng tìm kiếm những phương pháp mới, dựa trên những dữ kiện có tính cách toàn thể của một thời đại, không những dùng sách vở hoặc văn kiện mà còn dùng các phương tiện khác, như phỏng vấn, thăm dò tại chỗ… Tất cả những phương pháp này đưa tới một khoa học mới mà ta có thể tạm gọi là khoa nhân chủng lịch sử học. Các cuốn sách của tác giả Đặng Hữu Thụ làm chúng tôi nhớ tới cuốn “Montaillou, village Occitan” của sử gia Pháp Emmanuel Le Roy Ladurie, do nhà sách Gallimard xuất bản năm 1972. Trong sách này sử gia Le Roy Ladurie áp dụng các phương pháp dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học… tả lại đời sống trong một làng nhỏ bên Pháp và có nhiều đoạn có thể được đọc say mê như đọc tiểu thuyết. Trong sách của ông Đặng Hữu Thụ, độc giả cũng tìm thấy nhiều chi tiết rất lý thú về đời sống nhiều nhân vật làng Hành Thiện. Cách viết này đánh dấu một chiều hướng viết sử hiện đại, không chú trọng tới các biến cố lớn, các triều đại, mà chú trọng tới những giá trị căn bản của con người.

Tất nhiên khi đem tâm tình viết lịch sử, và viết một cách đam mê (như Hegel đã nói: “nếu không đam mê thì không làm được việc lớn”) nhất là trong hoàn cảnh một người trong cuộc, của một tác nhân có ảnh hưởng tới thời cuộc, người viết không thể hoàn toàn khách quan (như một sử gia ngoại quốc viết về Việt Nam chẳng hạn).

Đối với người đồng hương Hành Thiện, cuốn sách này rất cần thiết để bổ sung và điều chỉnh lại các gia phả nhiều họ trong làng, vì mỗi nhân vật trong cuốn sách này đều được kể lại theo dòng dõi gia phả. Như ông Đặng Hữu Thụ đã viết, nhiều cuốn gia phả hiện có của nhiều dòng họ không được kiểm điểm cặn kẽ, nhất là trong các mục học hành và bằng cấp nên có nhiều điều sai sót. Vì ông Đặng Hữu Thụ đã kiểm tra theo các tài liệu chính thức của các kho tài liệu Pháp tất cả các bằng cấp chức vụ của các nhân vật nói trong cuốn sách này, nên các điều ông viết rất chính xác.
Chúng tôi trân trọng giới thiệu cuốn “Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954” của tác giả Đặng Hữu Thụ với độc giả. Đây quả là một công trình nghiên cứu đồ sộ, một tài liệu lịch sử có tầm giá trị quan trọng vượt hẳn chủ đề cuốn sách. Cuốn sách này xứng đáng để phổ biến không những cho những người làng Hành Thiện tại hải ngoại, cho người làng tại quốc nội, mà còn cho cả những sinh viên, những nhà nghiên cứu về sử học trong cũng như ngòai nước, và nói chung là cho tất cả những ai muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam cận đại.

Nguyễn Thế Văn
Paris, ngày 30 tháng 6 năm 1999


* Đây là lời tựa thứ 2 cho cuốn Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954 - quyển thượng (Melun 1999) của tác giả Đặng Hữu Thụ, một luật gia, cựu Phó Chưởng Lý tòa Thượng thẩm Sài Gòn, cư trú tại Pháp từ sau 1975.
read more “Sách "Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954"”

Ngôi làng "cổ tích"

Tên ngôi làng "Hành Thiện" gắn với một câu chuyện đẹp về vị vua có trí và có đức - Vua Minh Mạng. Khi lên ngôi, yêu mến ngôi làng nhỏ có rất nhiều người đỗ đạt cao, người dân chân thật, hồn hậu, chuyên làm điều thiện, vua Minh Mạng đã ưu ái ban tặng cho làng 4 chữ sơn son thiếp vàng: "Mỹ tục khả phong" và đổi tên thành Hành Thiện.

Làng Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Làng được chia thành 14 xóm, tương đương với 14 khúc trên mình con cá chép, mỗi xóm cách nhau đúng 60 mét (con số này chính xác đến từng milimet). Đây là nét rất độc đáo của ngôi làng cổ này. Bản đồ của làng được lập rất công phu, thể hiện trình độ học vấn và sự uyên thâm của các bậc tiền nhân. Ở chính giữa đầu cá có chữ Miếu, chính là miếu thờ thần dựng làng, xuống dưới một chút là chữ Thị - khu chợ, nơi tụ họp đông đúc, thể hiện nét văn hóa phồn thực của cư dân vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Nhìn về phía cuối bản đồ, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy chữ "Nội tự", đây là ngôi chùa làng Hành Thiện (có tên gọi khác là chùa Keo Hành Thiện hay Thần Quang Tự).

Người xưa có câu "Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành Thiện". Ngôi làng nhỏ bé Hành Thiện ấy nổi tiếng là đất học, có nhiều người đỗ đạt. Dù trong giai đoạn lịch sử nào, làng Hành Thiện cũng xuất hiện những con người kiệt xuất, làm rạng danh quê hương, đất nước. Dưới thời phong kiến, làng có 419 người đỗ đạt, trong đó có 7 vị đại khoa, 3 tiến sỹ, 4 phó bảng, 97 cử nhân. Sử sách cũng đã ghi lại có những gia đình ở làng Hành Thiện có 9 người (cha - con, chú - cháu) cùng đi thi, có 7 người đỗ cao. Giai đoạn học chữ Pháp tuy rất ngắn, nhưng làng Hành Thiện cũng có 51 vị ghi danh. Trong đó có một tên tuổi đã trở thành niềm tự hào của dân làng Hành Thiện, Đặng Xuân Khu (tức cố Tổng Bí thư Trường Chinh). Cũng trong giai đoạn lịch sử này, Trường sơ học Hành Thiện được thành lập và xây dựng từ tiền công quỹ của làng, dạy học trò đến lớp nhất tiểu học (lớp vỡ lòng). Những cái tên Nguyễn Thế Rục, Đặng Xuân Khu, Đặng Xuân Thiều đã làm rạng danh làng học trong thời kỳ đầu của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong những giai đoạn tiếp theo, làng Hành Thiện là nơi sinh dưỡng cho đất nước những người con ưu tú, nắm giữ những cương vị chủ chốt trong quân đội và các cơ quan Trung ương. Dù ở cương vị nào, những người con Hành Thiện cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, một lòng vì Đảng, vì nhân dân. Không thể kể hết những phần thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng cho những người con làng Hành Thiện. Sự nghiệp đổi mới của đất nước đang giành được những thắng lợi bước đầu, làng Hành Thiện lại tiếp tục góp sức cùng cả nước bằng tài năng, trí tuệ của mỗi thế hệ người Hành Thiện hôm nay.

Chùa Keo Hành Thiện được xây dựng theo kiểu "Nội nhị công, ngoại thất quốc" trên diện tích 5 mẫu Bắc Bộ (tương đương 1,8 ha). Chùa có quy mô bề thế với 13 tòa rộng. Dãy dài gồm 121 gian tạo thành những cụm kiến trúc hài hòa, cân đối. Chùa còn giữ được nhiều mảng chạm khắc mang đậm phong cách thời Hậu Lê và nhiều cổ vật, cổ thư có giá trị như sập thờ, tượng Đại Pháp thiền sư Không Lộ bằng đồng, chuông, khánh đồng, bia ký, hoành phi, câu đối và các sắc phong của nhiều triều đại. Sau chùa Phật là đền Thánh thờ đức Thánh Tổ Đại Pháp thiền sư Không Lộ họ Dương, người đã có công thờ vua giúp nước, được nhân dân kính trọng.

Chùa Keo Hành Thiện đã được liệt vào danh sách cổ tự theo nghị định của toàn quyền Đông Dương và được xếp hạn di tích lịch sử năm 1962 theo Quyết định của Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thông tin). Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên đán và các ngày từ 13 đến 15 tháng 9 âm lịch, lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức rất long trọng với nhiều hình thức vui chơi bổ ích như bơi chải, thi đánh cờ, thi nấu cơm, thi ném pháo...

Theo tổng điều tra dân số (năm 1999), làng Hành Thiện có 6.230 người, 12% trong số đó có bằng cử nhân trở lên. Trong những năm gần đây, bình quân mỗi năm làng có trên dưới 30 học sinh thi đỗ và các trường đại học, cao đẳng. Đây sẽ là lực lượng kế cận các bậc tiền bối, tiếp nối truyền thống người Hành Thiện.

Niềm tự hào của người Hành Thiện

Đó là nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh, thuộc xóm Bảy, làng Hành Thiện. Ngôi nhà này do Tiến sỹ Đặng Xuân Bảng xây dựng vào năm Nhâm Dần (năm 1903) cho người con trai thứ tư là Đặng Xuân Viện. Trường Chinh là con trai cả của ông Đặng Xuân Viện.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cùng các đồng chí lãnh đạo địa phương

tại Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh

Khu nhà trên gồm năm gian làm bằng gỗ lim, hướng Nam, lợp ngói ta, hai hồi và tường hậu xây gạch. Hai gian buồng ở hai đầu, có bức chạm ngăn cách với khu nhà khách ở giữa. Cửa hồi phía Đông thông xuống bếp rồi đến dãy nhà ngang lợp bổi, gồm năm gian nhỏ. Phía trước có tường hoa, sân gạch và một ao nhỏ nằm sát phía ngoài với đường giong. Bờ ao có một số cây lưu niên. Giáp đường là hàng dậu bằng tre được xén ngay ngắn. Lối vào là cổng gạch xây khá cổ kính. Bên cạnh khu nhà này vừa là ngôi nhà khách, vừa là nhà trưng bày lưu niệm, nguyên là nhà của ông Đặng Xuân Tiết - anh ruột ông Viện. Đây là ngôi nhà năm gian, bằng gỗ lim, nằm cùng dãy quay hướng Nam như ngôi nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh.

Khu nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh là di tích lịch sử gắn liền với thân thế, sự nghiệp và cuộc đời hoạt động cách mạng của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, giữ nhiều trọng trách quan trọng của một nhà lãnh đạo kiệt xuất, giữ nhiều trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước, cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hàng năm, hàng ngàn lượt người đã về đây, từ các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến các đoàn khách quốc tế, các tầng lớp nhân dân để tỏ lòng thành kính với một nhân vật lịch sử kiệt xuất trong lịch sử nước Việt.

Trích từ "Nam Định - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI"-NXB Chính trị quốc gia
read more “Ngôi làng "cổ tích"”

Sự tích Cửu công làng Hành Thiện

Khoảng Tây lịch 1740, đương Đời vua Lê Ý Tân, niên hiệu là Vĩnh Hựu thứ 6, Trịnh Doanh chuyên quyền, bốn phương rối loạn. Phía đông thời có Nguyễn Tuyến, Nguyễn Cừ ở xã Lịnh Xá, nổi quân làm loạn đã làm cho chúa Trịnh hao binh tổn tướng. Phía Nam lại có Vũ Đình Dung, người xã Ngân Già thuộc huyện Nam Châu (nay là Nam Trực), phủ Xuân Trường cùng với đàng tốt là Đoàn Chấn, Tư Cao giữ thôn Đà Ninh (thuộc xã Ngân Già là sào huyệt, trong đắp một cái hang rất kiên cố thừa cơ thường ra ăn cướp phố Nhân Ninh (nay là Trực Ninh). Quan Đốc chấn ở Bạch Hạc là Hoàng Kim Tảo cùng với bộ thuộc là Nguyễn Đức Siêu, Trần Danh Quán đem binh đến đánh thua trận đề bị chết. Từ đấy thế quân nghịch càng mạnh, đồ đảng đều là quân hung tợn, không sợ chết, gặp quan quân kéo đến chỉ cầm giao tay, xông ra trận chém văng mạng, vậy nên quan quân đénh mười bảy trận đều bị thua. Chúa Trịnh bèn đổi chiến lược, đem quân sĩ kéo về Nam đánh Ngân Già để tuyệt sào huyệt của quân nghịch.Khi Chúa Trịnh cùng chư tướng kéo về Nam qua làng Vũ Điện, huyện Nam Sang đóng quân lại một đêm. Ngày mai kéo đến sông Vị hoàng tiến lên tổng Đỗ Xá, huyện Giao Thủy; bấy giờ Đinh Văn Nhai, Nguyễn Đình Hoàn, Vũ Tất Thuận, Tương Thuông mỗi người giữ một đạo, Trịnh Doanh cưỡi voi đi trước kéo thẳng vào thôn Đà Linh, đại binh tiến đến vây bốn mặt, trận đánh rất kịch liệt. Bên nghịch bốn vạn quân bị chết quá nửa, thôn Đà Ninh, máu người lai láng. Vũ Đình Dung đã bị trọng thương, nhưng vẫn còn khảng khái, xông vào trước trận đâm chết quan quân hơn trăm người, quan quân sợ chạy, Đinh Văn Nhai la truyền ba quân rằng: “quân ta đừng sợ chết, lập công báo chúa ở ngày hôm nay, thằng nào chạy chém đầu làm lệnh”. Chúng nghe lệnh đều lại hăng hái xông vào trước trận vây đánh rất dữ và đâm chết được Dung.Dẹp xong quân nghịch, Chúa Trịnh mới tước khứ tên xã Ngân Già làm xã Lai Cách.Xã Ngân Già thuộc về phủ Xuân, cách xã Hành Cung (nay là Hành Thiện) cũng không xa mấy. Đương bấy giờ chỉ huy Lén, thiên hộ Định đều là người xã Hành Cung theo hầu ở phủ Chúa Trịnh, ỷ thế chuyên quyền, về làng hách dịch, huynh thứ trong làng ai cũng ghét mắng nhiếc hai tên ấy. Từ đấy lũ tên Lén để lòng hiềm khích, nhân việc giặc Dung, muốn trả thù huynh thứ, chúng bèn bày vẽ với Chúa Trịnh rằng: huynh thứ thông với bọn giặc Chúa Trịnh tưởng thật cho bắt bọn huynh thứ thông giặc nếu dân làng giấu diếm thì triệt hạ cả làng. Dân sự ai cũng lấy làm lo sợ.Trong làng huynh thứ là ông Đặng Khắc Tướng, Nguyễn Thiện tất cả 10 người bàn với nhau rằng “Lệnh Chúa nghiêm ngặt, nếu không ai ra, sợ Chúa sai quân về tàn phá, lại hại cả làng, bất nhược ta đánh liều lên kinh làm giấy khiếu nại oan, may mà Chúa có lòng minh xét không nghe lũ kia vu cáo thì là hạnh phúc thứ nhất, bằng không may thì dẫu phải hy sinh cho hương tộc cũng cam lòng”. Trong 10 người, ông Nguyễn Thiện dùi dắng không muốn đi còn chín ông đều khẳng khái ra đi, đến phủ Chúa Trịnh kêu oan, chúa Trịnh liền sai quân đem chém, duy có ông Nguyễn Thiện nói dối ở nhà lo tiền rồi trốn mất.Chín ông bị chết; tên Lén, tên Định lấy làm đắc chí mượn thế Chúa Trịnh đem quân về đốt phá chín nhà ông ấy, ruộng nương của chín ông thì chúng chỉ làm ngụy điền, tịch ký làm của công, còn dân làng thì không ai bị thiệt hại gì cả. Không bao lâu tên Định, tên Lén đều chết, điền sản của các ông ấy lại được phúc nguyên cũ, mà con cháu đến nay vẫn được thịnh vượng, còn dòng dõi tên Lén, tên Định tuyệt diệt đã lâu. Thế mới biết trời gần.Tính danh chín ông ấy như sau:

1/ Đặng Khắc Tướng, Quốc tử giám giám sinh.
2/ Phạm Bá Hiệu, huyện thừa huyện Yên Mô,
3/ Phạm Trọng Huyện, huyện thừa châu Điện Bàn,
4/ Đặng Bá Tích, phó sở xứ
5/ Đặng Trọng Đôn, phó sở xứ
6/ Đặng Nho Cẩn. phó sở xứ
7/ Lã Đăng Đạo, tri sự,
8/ Đặng Phạm Tế, tri sự
9/ Đặng Chấn Thuyên

Trích ở Đông Thanh tạp chí số 28 ngày 15-8-1933trang 742 xuất bản tại Hà Nội
read more “Sự tích Cửu công làng Hành Thiện”

Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện

Dưới đây là phóng sự Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện được Sở VHTT tỉnh Nam Định thực hiện vào tháng 3-2007, mời các bạn cùng theo dõi, bài cũng được đăng tại NDOL:


Lễ hội chùa Keo Hành Thiện được tổ chức vào rằm tháng 9 âm lịch hằng năm tại Ngôi chùa "Thần Quang Tự" hay còn gọi là Chùa Keo để mừng sinh nhật của vị thánh Không Lộ Thiền Sư (Dương Không Lộ).
Độc đáo nhất có lẽ là môn đua thuyền trải: có 15 xóm trong làng tham gia đua thuyền hay gọi là bơi trải, có tất cả 10 người trên thuyền trong đó có 1 người lái thuyền. Bơi trải ở Chùa Keo Hành Thiện Nam Định khác với các nơi khác, họ không ngồi bơi mà 10 người đểu đứng để chèo. Bắt đầu xuất ở trong sông con là sông làng khoảng 5-6km rồi bắt đầu ra đến sông Ninh Cơ nhánh của sông Hồng, bơi 3.5 Vòng sông rồi quay về bắt Têu trong sông con nếu đội nào về đầu thì sẽ dành giải nhất. Trung bình mỗi cuộc thi bơi trải diễn ra từ 3.5 - 4 h đồng hồ) Đây là môn thi đấu cổ truyền rất tuyệt vời đáng được ghi nhớ cũng như lưu trong sử sách của Dân tộc ta, và vẻ đẹp của nói khó ở môn thi nào có được.
read more “Lễ hội truyền thống Chùa Keo Hành Thiện”

Đất khoa bảng, quê mỹ nhân

Những tưởng câu nói: “Bắc Hà, Hành Thiện, Quan Diễn, Quỳnh Lôi” nói về các “miền gái đẹp” như vùng đất sông Lô nhưng hóa ra đây lại là câu vinh danh đất học và khoa bảng. Một làng có truyền thống hiếu học và nhiều người thành đạt, lại là nơi có lắm mỹ nhân...

Trong đêm chung kết cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, có một điều bất ngờ đầy thú vị là một người con làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, vùng đất nổi danh khoa bảng trở thành Á hậu 2, đó là Đặng Minh Thu. Trước đấy, hai Hoa hậu Việt Nam Nguyễn Diệu Hoa (1990) và Nguyễn Thu Thủy (1994) cũng là người quê ở Hành Thiện.


Đường vào xóm 7 làng Hành Thiện

Quê hương những người đẹp

Vượt qua thành phố Nam Định khoảng 30 km, chúng tôi có mặt ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường vào một buổi sáng. Trời mưa to nên đường làng vắng lặng, thoảng có người qua thì lại trùm kín áo mưa nên đi mãi mà chúng tôi vẫn chưa có cơ may được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của các cô gái làng.

Theo như chúng tôi được biết thì Hoa hậu Việt Nam 1994 Nguyễn Thu Thủy có bố là Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Văn Lợi - Phó Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học - thuộc dòng họ Nguyễn ở làng Hành Thiện.

Hiện tại ông bà nội của Thu Thủy vẫn đang sinh sống ở quê. Hoa hậu Việt Nam 1990 Nguyễn Diệu Hoa thì có mẹ là người gốc làng Hành Thiện. Ông ngoại cô là Giáo sư y khoa Đặng Vũ Hỷ, cậu ruột là Giáo sư - Viện sĩ Đặng Vũ Minh nổi tiếng khắp vùng về tinh thần hiếu học và đỗ đạt cao.

Còn Á hậu 2 Đặng Minh Thu vừa đăng quang đêm 2/9 thì thuộc dòng họ Đặng Xuân ở Hành Thiện. Rời làng xuất cảnh sang Nga từ khi 3 tuổi, ký ức về quê hương của Thu rất ít nên cô chỉ biết quê mình ở Nam Định, thuộc họ Đặng Xuân ở làng Hành Thiện.

Thấy chúng tôi hỏi thăm về những mỹ nhân Hành Thiện đã từng đăng quang ngôi hoa hậu, á hậu của các cuộc thi người đẹp Việt Nam, ông Phó chủ tịch xã Xuân Hồng ngớ người ra: “Thế à! Giờ chị nói tôi mới biết đấy. Chúng tôi có biết thông tin gì đâu. Chắc các cô ấy chỉ là gốc gác ở Hành Thiện thôi chứ không phải người sinh sống ở làng. Người làng hiện tại mà có người đoạt giải lớn như thế, lại phát trên truyền hình thì chúng tôi biết ngay”.

Anh Phan Hùng Cường, cán bộ chuyên trách văn hóa xã cũng lắc đầu thành thật: “Quả thực là chúng tôi không biết gì thông tin về những người đẹp này cả. Chắc chỉ có đời cụ, đời ông, hoặc cùng lắm đời bố của họ là sinh ra ở Hành Thiện thôi. Còn họ hoặc sinh ra ở nơi khác, hoặc rời làng từ khi còn rất nhỏ. Còn nói về lịch sử thì Hành Thiện không nổi danh là “miền gái đẹp” như một số địa danh khác. Con gái Hành Thiện chưa thấy có ai đẹp nổi trội hẳn đến mức phải làm dư luận xôn xao”.

Nhờ sự dẫn đường của anh Phan Hùng Cường, chúng tôi tìm đến những người dòng họ Đặng Xuân hiện còn đang sinh sống tại làng. Anh Đặng Xuân Tiến, người duy nhất của họ Đặng Xuân ở lại làng trông coi nhà thờ cụ Đặng Xuân Bảng - ông nội cố Tổng Bí thư Trường Chinh - vui vẻ trao đổi với chúng tôi: “Tôi cũng có theo dõi cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt 2007 trên truyền hình. Khi xem phần dự thi của thí sinh Đặng Minh Thu, thấy giới thiệu quê ở Nam Định, tôi đã ngờ ngợ cô gái này thuộc dòng họ Đặng ở Hành Thiện. Thế nhưng vì thiếu thông tin nên khi tra gia phả tôi không thể tìm ra cô ấy thuộc chi nào, nhánh nào.

Đặng Minh Thu - cô gái đất khoa bảng

là ứng cử viên đại diện Việt Nam thi Hoa hậu Thế giới.

Nhờ sự dẫn đường của anh Phan Hùng Cường, chúng tôi tìm đến những người dòng họ Đặng Xuân hiện còn đang sinh sống tại làng. Anh Đặng Xuân Tiến, người duy nhất của họ Đặng Xuân ở lại làng trông coi nhà thờ cụ Đặng Xuân Bảng - ông nội cố Tổng Bí thư Trường Chinh - vui vẻ trao đổi với chúng tôi: “Tôi cũng có theo dõi cuộc thi hoa hậu thế giới người Việt 2007 trên truyền hình. Khi xem phần dự thi của thí sinh Đặng Minh Thu, thấy giới thiệu quê ở Nam Định, tôi đã ngờ ngợ cô gái này thuộc dòng họ Đặng ở Hành Thiện. Thế nhưng vì thiếu thông tin nên khi tra gia phả tôi không thể tìm ra cô ấy thuộc chi nào, nhánh nào.

Họ Đặng ở Hành Thiện có 4 dòng Đặng Đức, Đặng Khắc, Đặng Xuân, Đặng Ngọc. Còn như dòng họ Đặng Vũ bên ngoại của Hoa hậu Nguyễn Diệu Hoa thì là dòng con nuôi họ Đặng. Hiện tại, gia phả dòng họ Đặng Xuân có chép đến đời thứ 11, còn gia phả họ Đặng đại tôn thì ghi đến đời thứ 18. Gia phả chỉ ghi đến đời ông, thậm chí không có cả tên bố nên việc tìm ra tên con cái là rất khó.

Còn nói về con gái đẹp trong dòng họ Đặng Xuân thì hầu như thế hệ nào cũng có. Thế nhưng các cụ chỉ chú ý ghi chép về truyền thống hiếu học và thành đạt của dòng họ chứ chẳng ai ghi chép về sắc đẹp của các cô gái họ Đặng cả. Vì thế đến nay chúng tôi chỉ nghe phong thanh các bậc cha chú vui miệng trò chuyện về một bà, một cô nào đó rất đẹp trong họ nhưng chưa bao giờ được diện kiến. Vì những người đó hoặc là già cả, đã mất, hoặc là rời làng đi nơi khác từ rất lâu rồi”.

Luôn coi việc học tập là một nghề

Theo ông Nguyễn Đặng Hùng thì thời phong kiến, Hành Thiện có 419 người đỗ đạt, trong đó có đến 7 người đỗ đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Làng có 4 người làm quan thượng thư, 4 người là tuần phủ, 4 người là tổng đốc, 69 người làm tri phủ, tri huyện...

Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, Hành Thiện có 45 người là giáo sư, phó giáo sư; 166 người là tiến sĩ, thạc sĩ; 1.493 người tốt nghiệp đại học.

Hành Thiện còn là nơi xuất thân của 16 cán bộ cao cấp, đảm nhiệm các chức vụ từ Thứ trưởng đến Tổng bí thư của Đảng; 7 tướng lĩnh quân đội; 3 Anh hùng LLVTND.

Đặc biệt, đây còn là quê hương của đồng chí Đặng Xuân Khu, tức Trường Chinh, là Tổng Bí thư của Đảng nhiều năm, nhà lãnh đạo kiệt xuất, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Để có được truyền thống khoa bảng và hiếu học nổi danh khắp nơi là do người Hành Thiện luôn coi việc học tập là một nghề bên cạnh nghề làm ruộng và dệt vải. Người làng không sợ thiếu tiền của mà chỉ sợ thiếu chữ. Vì vậy người Hành Thiện đều cố công học chữ để làm người sống có đạo lý, có tri thức, phục vụ xã hội.

Có những người như ông Nguyễn Trọng Trù cảnh nhà hàn vi, nhờ tranh thủ học trong những lúc đi cày, đi bừa, giã gạo mà thi đỗ tú tài năm 19 tuổi, 25 tuổi thì đỗ cử nhân. Ông Nguyễn Đăng Thiện, đỗ tú tài năm 19 tuổi nhưng vẫn miệt mài theo đuổi đèn sách đến năm 60 tuổi mới thi đỗ cử nhân.

Ông Đặng Vũ Tường, 4 lần thi đỗ tú tài, đến 53 tuổi thì đỗ cử nhân và được bổ nhiệm làm quan tri huyện. Theo quy định ngày ấy thì quan lại không được phép dự thi tiếp nên ông đã treo ấn từ quan để về quê tiếp tục sách bút và vào kỳ thi Hội năm 64 tuổi.

Người dân Hành Thiện vẫn nhớ về thần đồng Đặng Xuân Bảng (ông nội đồng chí Trường Chinh) như một điển hình cho truyền thống hiếu học và khoa bảng của làng. Thời đó, ông Bảng nhà nghèo, không có tiền theo học thầy mà chỉ học cha là ông Đặng Viết Hòe mà đỗ Tiến sĩ năm 29 tuổi. Biết chuyện, Vua Tự Đức cảm phục đã ban cho bố con ông 4 chữ “Giáo tử đăng khoa” (Dạy con thi đỗ).

Những tưởng câu nói: “Bắc Hà, Hành Thiện, Quan Diễn, Quỳnh Lôi” nói về các “miền gái đẹp” như vùng đất sông Lô nhưng hóa ra đây lại là câu vinh danh đất học và khoa bảng. Một làng có truyền thống hiếu học và nhiều người thành đạt, lại là nơi có lắm mỹ nhân... Thật đúng là hiếm quá!


Hải Châu

Theo báo CAND


read more “Đất khoa bảng, quê mỹ nhân”

Thiền Sư KHÔNG LỘ

Thơ Không lộ Thiền sư

Thiền sư Không Lộ

(? - 1119)

(Đời thứ 9, dòng Vô Ngôn Thông)

Sư họ Dương, không rõ tên thật là gì, quê ở làng Hải Thanh. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), Sư theo Thiền sư Lôi Hà Trạch xuất gia, cùng làm bạn với Thiền sư Giác Hải và Từ Đạo Hạnh.

Phong cách Sư thoát tục, ăn mặc thế nào xong thôi, không vướng mắc vật chất thường tình, chỉ tinh chuyên Thiền định, trải bao năm tu tập, ăn cây mặc cỏ, quên cả thân mình.

Sau khi đắc đạo, Sư có thể bay trên không, hoặc đi trên mặt nước, cọp thấy phải cúi đầu, rồng gặp cũng nép phục. Những pháp thuật thần bí của Sư không đo lường được.

Đến ngày 3 tháng 6 năm Hội Tường Đại Khánh thứ mười (1119) đời Lý Nhân Tông, Sư viên tịch. Môn đồ làm lễ hỏa táng, thu xá-lợi, xây tháp thờ ở trước chùa Nghiêm Quang(1) là nơi Sư trụ trì.

Tác phẩm của Sư có bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn.


Kệ Ngôn Hoài

Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Dịch:

Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,
Cả buổi tình quê những mảng vui.
Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,
Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.

(Ngô Tất Tố)

Thơ Ngư Nhàn

Vạn lý thanh giang vạn lý thiên,
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên.
Ngư ông thùy trước vô nhân hoán,
Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.

Dịch:

Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,
Một làng dâu giá, một làng hơi.
Ông chài mê ngủ, không người gọi,
Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.




(1) Thiền sư Không Lộ chùa Nghiêm Quang: Chùa Nghiêm Quang đổi tên là Thần Quang (1167), nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị hủy hoại vì bão lụt. Năm 1630 dân sở tại dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thường gọi là chùa Keo dưới.

Theo Phật sự Thường Chiếu

read more “Thiền Sư KHÔNG LỘ”

Giai thoại về cụ Tả Ao

Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất của cụ Tả Ao là chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định: cụ đi tới làng Hành Thiện thấy đất làng hình con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh. Dân làng nghe cụ nói bèn hậu đãi trà rượu và khẩn khoản xin cụ đặt lại hướng làng. Cụ Tả Ao thấy dân làng tử tế liền chỉ cho làng đào một cái giếng lớn làm mắt cho con cá chép, từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng.

Bản đồ làng Hành Thiện được vẽ bởi ông Đặng Văn Lâm

Cụ Tả Ao đi xem đất suốt từ Nghệ Tĩnh ra các làng mạc ở khắp miền Bắc và trong gia phả của nhiều gia đình còn ghi lại những công trình địa lý phong thủy của cụ. Nhiều chuyện khôi hài do quần chúng thêm thắt như chuyện cụ Tả Ao thấy dân làng kia rất xấu tính mà lại xin cụ để kiểu đất nào có thể "đè đầu thiên hạ", cụ liền tìm cho làng một kiểu đất khiến dân làng dần dần theo nghề "húi tóc" có thể "đè đầu vít thiên hạ" đúng như ý nguyện!

Tương truyền cụ đang đi chơi ngoài bãi biển thấy sóng gió nổi lên ầm ầm biết là hàm rồng 500 năm mới há mồm một lần ở biển Đông, liền chạy về nhà mang cốt mẹ ra định ném xuống hàm rồng, nhưng vì thương tiếc chần chờ nên hàm rồng đóng lại, biển khép êm sóng lặng như trước!

Lúc sắp chết, cụ dặn con cháu khiêng mình ra miếng đất đã định trước là đất địa tiên "nhất khuyển trục quần dương" (một con chó đuổi đàn dê), nhưng không kịp đành dừng lại nửa đường phân kim lựa cho chính mình một miếng đất phúc thần đời đời ăn hương hoa mà thôi.

Theo Trung tâm 24x7

read more “Giai thoại về cụ Tả Ao”